Thảo luận Bài 2

Trang 1 trong tổng số 2 trang 1, 2  Next

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

Thảo luận Bài 2

Bài gửi  Admin on 2/3/2014, 16:45

Thảo luận những vấn đề liên quan đến Bài 2.

Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 289
Join date : 18/02/2009

Xem lý lịch thành viên http://hedieuhanh.forumvi.net

Về Đầu Trang Go down

Phân biệt nhập xuất đồng bộ và nhập xuất không đồng bộ

Bài gửi  CaoBaDuc-25-HLT3 on 16/3/2014, 19:43

1. Nhập xuất đồng bộ: tiến trình người dùng và thiết bị ngoại vi làm việc "không đồng thời", phải chờ nhau.
VD: Khi tiến trình người dùng yêu cầu nhập vào các giá trị để tính toán thì tiến trình phải chờ người dùng nhập dữ liệu để tính toán
2. Nhập xuất không đồng bộ: tiến trình người dùng và thiết bị ngoại vi làm việc "đồng thời", không chờ nhau.
VD: Khi tiến trình yêu cầu in dữ liệu ra máy in thì tiến trình không nhất thiết phải chờ in xong mới tiếp tục làm.

CaoBaDuc-25-HLT3

Tổng số bài gửi : 11
Join date : 16/03/2014

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Quá trình khởi động của máy tính và hệ điều hành

Bài gửi  NguyenHaAn(I22A) on 16/3/2014, 20:18

Máy tính chỉ lưu trữ ngày giờ hệ thống, thông tin phần cứng giữa những boot session. ROM sẽ truyền những lệnh xử lý khởi động. BIOS là nơi chứa các thủ tục để kết nối cho các phần cứng (ổ đĩa, bàn phím, chuột, vv..), và OS sẽ được định vị -> khởi chạy. CMOS là nơi chứa các dữ liệu có thể sửa được về thông tin của máy, như dạng đĩa cứng, IRQs, ...

BIOS viết tắt của Basic Input/Output System, tạm dịch là hệ thống nhập/xuất cơ bản. BIOS giữ nhiều vai trò khác nhau nhưng vai trò quan trọng nhất là nạp hệ điều hành. BIOS được chứa sẵn (thường ở dạng nén dữ liệu) trong các con chip như là PROM, EPROM, EEPROM hay bộ nhớ flash của bo mạch chính. Khi máy tính được mở qua công tắc bật điện hay khi được nhất nút reset, thì BIOS được khởi động và chương trình này sẽ tiến hành các thử nghiệm khám nghiệm trên các ổ đĩa, bộ nhớ, bo hình, các con chip có chức năng riêng khác và các phần cứng còn lại.

Thông thường, BIOS tự giải nén vào trong bộ nhớ chính của máy tính (RAM, ..) và bắt đầu vận hành từ đây. Hầu hết các lắp đặt của BIOS ngày nay có thể thực thi cài đặt các chương trình giao diện CMOS. Bộ phận này (CMOS) là nơi lưu giữ các dữ liệu cài đặt chuyên biệt của người dùng; như thời gian, các đặc tính chi tiết của ổ đĩa, việc gán chức năng khởi động cho bộ điều khiển (controller) nào, hay ngay cả mật mã khởi động máy, ... CMOS được truy cập bởi BIOS.

Quá trình khởi động của máy tính và HĐH :

  1. BIOS là cái được khởi động đầu tiên.
  2. BIOS khởi chạy những sector phục vụ cho việc booting, những sector này được gọi là Master Boot Record (MBR) or the Boot Block, và nó được bảo vệ
  3. BIOS chạy một chương trình của nó được gọi là Master Boot Record Program (MBRP).
  4. Sau đó MBRP sẽ khởi chạy Operating System Loader Program (OSLP). Hay được gọi là LILO với Linux.
  5. OSLP sẽ khởi hoạt các thiết bị hệ thống như: CPU, bộ nhớ và I/O devices, sau đó khởi động hạt nhân (Kernel, Monitor) của OS. Nếu không tìm thấy OS nào được cài, sẽ có thông báo lỗi chưa cài OS chẳng hạn.
  6. Tiếp tục OS sẽ chạy  INIT (Initialization), chạy các file thiết lập môi trường và giao diện, chờ đợi các sự kiện khác

Các hệ thống khác nhau thì sẽ có riêng MBR khác nhau. điều đó cho phép bạn chạy nhiều OS khác nhau. Như Microsoft Windows (từ winNT trở đi) thì nó đã nạp sẵn MBR để khởi động.


Được sửa bởi NguyenHaAn(I22A) ngày 16/3/2014, 22:16; sửa lần 2.

NguyenHaAn(I22A)

Tổng số bài gửi : 11
Join date : 26/03/2013

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Câu hỏi liên quan đến việc khởi động máy tính cài song song 2 hệ điều hành.

Bài gửi  BuiNguyenHoangYen (HLT3) on 16/3/2014, 20:31

Có nhiều trường hợp, khi người sử dụng cài song song 2 HĐH, nằm trên 2 ổ đĩa khác nhau (VD : Windows trên ổ C, Ubuntu trên ổ D), thì khi khởi động lại máy, máy tính không hiện ra giao diện chọn lựa giữa 2 HĐH, mà đi vào thẳng HĐH Ubuntu.
Lỗi này là do đâu ? Có liên quan đến MBR hay không ?

BuiNguyenHoangYen (HLT3)

Tổng số bài gửi : 16
Join date : 16/03/2014

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 2

Bài gửi  LeThiHuyenTrang(HLT3) on 16/3/2014, 21:47

BuiNguyenHoangYen (HLT3) đã viết:Có nhiều trường hợp, khi người sử dụng cài song song 2 HĐH, nằm trên 2 ổ đĩa khác nhau (VD : Windows trên ổ C, Ubuntu trên ổ D), thì khi khởi động lại máy, máy tính không hiện ra giao diện chọn lựa giữa 2 HĐH, mà đi vào thẳng HĐH Ubuntu.
Lỗi này là do đâu ? Có liên quan đến MBR hay không ?
mình nghĩ lỗi là chưa phân vùng primary trước khi cài đặt.

LeThiHuyenTrang(HLT3)

Tổng số bài gửi : 20
Join date : 16/03/2014

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 2

Bài gửi  CaoBaDuc-25-HLT3 on 16/3/2014, 23:06

BuiNguyenHoangYen (HLT3) đã viết:Có nhiều trường hợp, khi người sử dụng cài song song 2 HĐH, nằm trên 2 ổ đĩa khác nhau (VD : Windows trên ổ C, Ubuntu trên ổ D), thì khi khởi động lại máy, máy tính không hiện ra giao diện chọn lựa giữa 2 HĐH, mà đi vào thẳng HĐH Ubuntu.
Lỗi này là do đâu ? Có liên quan đến MBR hay không ?

mình nghĩ lỗi do chưa tạo menu để khởi động. nên mặc định là 1 HDH nào dó sẽ được khởi động. có công cụ hỗ trợ tạo menu boot như boot ICE , Easy BCD...

CaoBaDuc-25-HLT3

Tổng số bài gửi : 11
Join date : 16/03/2014

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Quá trình khởi động của máy tính diễn ra như thế nào?

Bài gửi  VanPhuAnhTuan95(HLT3) on 17/3/2014, 12:14

Đầu tiên ta bắt đầu bật công tắc Power On để khởi động máy tính Bộ nguồn máy tính bắt đầu được cấp nguồn và thao tác đầu tiên của nó là bắt đầu thực thi bước đầu tiên trong giai đoạn POST (Power on self test),nó sẽ đi kiểm tra các giá trị điện thế logic ở ngõ ra đã thực sự ổn định chưa +5v, -5v,+12v,-12v, đúng chưa .Giai đoạn mà nó tự đi POST, nguồn này sẽ diễn ra rất nhanh, khoảng từ 0.5-2 giây.
Nếu trong quá trình kiểm tra có sự cố thì nó sẽ không cấp nguồn cho mainboard nữa và có thể treo máy luôn hoặc dùng tín hiệu âm thanh (Error Sound Code) để báo cho ta biết .Nếu như quá trình kiểm tra tốt không có chuyện gì thì lúc này nó sẽ gửi tín hiệu báo nguồn tốt PG (Power good signal),tín hiệu này sẽ kích vào một mạch định thời gian Timer Microcontroller trên main, cấp nguồn cho CPU và bắt đầu ở vào trạng thái sẵn sàng làm việc.
Sau khi được cấp nguồn, công việc đầu tiên CPU đi thực thi là nó sẽ tiến hành đi đọc ROM BIOS .Như vậy lúc này có thể nói Rom BIOS đóng vai trò là người dẫn đường đầu tiên cho CPU trong quá trình khởi động
Thực chất trong Rom BIOS sẽ mang một đoạn chương trình và yêu cầu CPU phải tiến hành thực thi đoạn chương trình này ở mỗi lần khởi động máy .Lúc này CPU sẽ lần lượt thực hiện các lệnh trong Rom BIOS theo từng bước sau:
Tiến hành kiểm tra các thiết bị cơ bản nhất trên hệ thống để xem tình trạng làm việc của các thiết bị này đã sẳn sàng chưa. Các thiết bị cơ bản này sẽ bao gồm :RAM, HDD, VGA, các bộ chipset và mainboard..Trong quá trình kiểm tra từng thiết bị, nếu tốt nó sẽ kiểm tra thiết bị kế tiếp, nhưng nếu gặp sự cố trong giai đọan này thì hoặc là máy sẽ treo luôn, không có hình ảnh âm thanh gì, hoặc là máy sẽ dùng tín hiệu báo lỗi âm thanh để thông báo cho ta biết .Lúc này chưa thể hiện hình được vì CPU chưa đọc Rom màn hình (Rom video ).
Khi kiểm tra RAM trong giai đoạn này thì thông thường ta sẽ gặp một số lỗi và tình trạng như sau : Nếu ta gắm RAM sai Bank thì máy sẽ không lên hình ảnh và không báo lỗi gì cả, nhưng nếu ta gắm RAM lõng chân hay RAM hư thì máy sẽ dùng tín hiệu âm thanh báo lỗi cho ta biết và thông thường mã âm thanh báo lỗi của RAM là nó sẽ bip từng tiếng ngắn và liên tục nhau . Khi kiểm tra đĩa cứng thì thông thường ta cũng sẽ gặp một số lỗi sau :Nếu ta gắn 1 đĩa cứng bị hư, gắn lỏng dây hoặc set Jumper đĩa cứng sai thì chẳng ảnh hưởng gì cả, máy vẫn làm việc bình thừong chỉ có ta không thể detect được đĩa cứng đó trong CMOS mà thôi và tất nhiên cũng chẳng thể vào Win đựơc.
Khi kiểm tra VGA :Nếu ta gắn VGA tốt, bình thường thì không có chuyện gì xảy ra cả, nhưng nếu ta gắn VGA bị hư hay chưa gắn thì lúc này máy sẽ phát tín hiệu báo lỗi và tín hiệu này sẽ là một tiếng bip kéo dài và 3 tiếng bip ngắn .Nhờ code báo lỗi của VGA ta có thể lợi dụng nó để xem mainboard hay CPU có hư hay không .Giả sử ta bật máy lên chẳng có âm thanh hình ảnh gì và ta nghi ngờ là có thể hư main hay CPU.
CPU tiếp tục đi đọc Rom màn hình và bắt đầu thông tin lên màn hình các thông tin đầu tiên mà nó sẽ thông báo cho ta biết là hãng sản xuất của card màn hình, model của card và dung lượng RAM màn hình của nó.Giai đoạn báo thông tin này đối với các máy đời cũ diễn ra khá chậm, nhưng đối với các máy ngày nay nó diễn ra rất nhanh đế nỗi có nhiều khi ta xem không kịp.
Tiếp theo, nó sẽ đi dò tìm trên hệ thống để xem ta có đang sử dụng một adapter card nào có gán Rom hay không, nếu không thì thôi nhưng nếu có thì nó sẽ đi đọc luôn thông tin trong Rom của các Adapter card đó .
Đọc và báo thông tin về CPU, main và Rom BIOS .Về CPU nó sẽ báo hãng sản xuất CPU, loại CPU và tần số làm việc của nó ;về main nó sẽ báo loại main, đời main và bộ chipset của main ;về Rom BIOS có thể nó sẽ báo hãng sản xuất, ngày sản xuất và version của nó .
Test RAM: Thông thường khi test RAM nó sẽ test RAM 3 lần và trong mỗi lần đó nó sẽ test đi test lại bộ nhớ qui ước 2 lần .
Đến 1 địa chỉ trên RAM để đọc 1 byte ở giá trị này xem hệ thống đang boot nóng (warm boot :boot bằng Ctrl-Alt-Del)hay boot lạnh (cold boot:Reset hay tắt máy ). Địa chỉ này là 0000:0472,nếu byte này có giá trị là 1234h thì hệ thống đang boot nóng, còn nếu là 1 giá trị khác thì hệ thống đang boot lạnh .
Nếu hệ thống đang boot lạnh thì khởi động lại nó phải thực thi từng bước giống như lúc đầu .Nhưng nếu hệ thống đang boot nóng thì khi boot lại nó sẽ bỏ qua các bước đã thực thi rồi ví dụ như đọc CPU, test RAM …để nhằm làm cho quá trình khởi động nhanh hơn .
CPU đi đọc CMOS : Đọc các thông tin đang được khai báo trong CMOS rồi so sánh với thực tế trên hệ thống, nếu đúng thì làm tiếp nhưng nếu thông tin đang khai báo trong CMOS bị sai thì có thể máy sẽ báo lỗi hoặc treo máy.
Như vậy thì CPU sẽ đi đọc CMOS ngay sau khi test RAM, nên thông thường nếu ta đang khởi động mà máy test RAM xong lại treo máy thì hầu hết 90 % nguyên nhân là do các thông số trong BIOS gây ra .Kiểm tra lại CMOS.
Đến mục thứ hai BIOS Features Setup trong CMOS đọc mục Boot Sequence để xem ta đang cho khởi động từ ổ đĩa nào :A:C hay C:A .Nếu biết được ổ đĩa đang được cho khởi động thì đi đọc ngay sector vật lý đầu tiên của ổ đĩa đó .Nếu ta đang cho boot A:C thì CPU sẽ đi đọc sector vật lý đầu tiên của đĩa A ;và đó chính là DBR của A ;nhưng nếu ta cho boot C:A thì nó sẽ đi đọc sector vật lý đầu tiên trên đĩa cứng và sector này chính là bảng Master partition table .Bây giờ giả sử ta đang cho boot A: C:,CPU sẽ đi đọc bảng partition chủ trên đĩa cứng.
Đọc bảng Partition của đĩa cứng -Đầu tiên nó sẽ đụng 446 bytes của đoạn chương trình ngắn và sẽ thực thi 3 lệnh trong đoạn chương trình ngắn này .
Kiểm tra 64 bytes của bảng thông số vật lý của partition bên dưới rồi so sánh với thực tế trên đĩa xem có đúng không .Nếu đúng thì làm tiếp nhưng nếu sai thì hoặc là treo máy, hoặc là sẽ báo một trong các câu thông báo lỗi sau :Invalid partition table, Error loading operating system, Missing operating system.
Kiểm tra xem ta đang chia làm bao nhiêu partition và partition nào đang được set active .Còn nếu trong quá trình kiểm tra nó không thấy partition nào được set active thì có thể ta sẽ nhận được thông báo P:ress any key to reboot, No Rom Basic, system halt ….
Nếu đã xác định được partition nào đang được set active rồi thì đi đọc sector logic đầu tiên của partition hay ổ đĩa logic đó hay nói cách khác lúc này CPU sẽ đi đọc MBR (Master Boot Record) của ổ đĩa này bởi vì theo qui định của Dos, sector logic đầu tiên của một ổ đĩa lúc nào cũng phải là MBR.
Khi đọc MBR, vì bảng thông số nội bộ của DBR lại nằm tr6en nên đầu tiên nó sẽ đọc 3 bytes nhảy trứoc EB 3C 90 hay EB 58 90 để nhảy qua bảng thông số nội bộ, đến và bắt đầu thực thi 2 lệnh của đạng chương trình mồi MBR.
Kiểm tra 59 bytes hay 87 bytes của bảng thông số nội bộ MBR bên trên rồi so sánh với thực tế nội bộ trên ổ đĩa đó xem có đúng không .Nếu đúng thì làm tiếp nhưng nếu sai thì hệ thống sẽ treo máy và không cho phép ta khởi động được nữa, có thể lúc này ta gặp một con trỏ nhấp nháy trên màn hình.
Đến các cluster đầu tiên trên đĩa, thông thường đối với Diskedit là cluster 2 để tải Io.sys lên RAM .Nếu không tìm thấy Io.sys ở vị trí này ta sẽ nhận được một câu thông báo :Non system Disk or Disk error .Replace and press any key ….Nhưng nếu tải được Io.sys lên RAM rồi thì ta có thể xem như quá trình khởi động đã thành công vì lúc này Ron BIOS trả quyền điều khiển lại cho hệ điều hành .
Có một số lưu ý về Io.sys :Io.sys chính là 1 phần của hệ điều hành và nó phải có vị trí xác định, nó phải nằm ngay các cluster đầu tiên và không bao giờ thay đổi tr6en đĩa .Nếu mất Io.sys đi, vì đặc điểm này nên ta không thể dùng lệnh copy bình thường để copy lại nó mà ta phải dùng Sys để tạo hay Disktool –make a disk bootable .Như vậy Sys hay Disktool cũng là một tập tin dùng để copy nhưng nó copy Io.sys vào đúng ngay vị trí của nó, ngoài ra nó còn tạo cho ta cả đoạn chương trình mồi của MBR.

VanPhuAnhTuan95(HLT3)

Tổng số bài gửi : 31
Join date : 16/03/2014

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

BỘ NHỚ CACHE

Bài gửi  VanPhuAnhTuan95(HLT3) on 17/3/2014, 12:22

Nguyên lý

Bộ nhớ cache được thiết kế với ý định mang lại bộ nhớ có tốc độ xấp xỉ tốc độ của bộ nhớ nhanh nhất hiện có, đồng thời cung cấp một kích thước bộ nhớ lớn với phí tổn ít hơn so với các loại bộ nhớ bán dẫn. Khái niệm về bộ nhớ cache được trình bày trên hình 4.3 và 4.4. Bộ nhớ cache chứa bản sao của một phần bộ nhớ chính. Khi CPU cố gắng đọc một word từ bộ nhớ, word này sẽ được kiểm tra xem có trong cache hay không. Nếu có, word đó sẽ được cung cấp ngay cho CPU. Trong trường hợp ngược lại, một khối bộ nhớ chính, bao gồm một lượng cố định các word sẽ được đọc vào trong cache và sau đó word đó sẽ được cung cấp cho CPU. Do có hiện tượng tham chiếu cục bộ, khi một khối dữ liệu được lấy vào trong cache để đáp ứng một tham chiếu đơn lẻ, có nhiều khả năng các tham chiếu kế tiếp sẽ là các word khác trong cùng một khối.



Hình 4.3 Cache và bộ nhớ chính

Hình 4.3 thể hiện mối quan hệ giữa một hệ thống cache và bộ nhớ chính. Hình 4.4 thể hiện cấu trúc cache/ bộ nhớ chính. Hình 4.5 mô tả một tổ chức tiêu biểu của bộ nhớ cache. Bộ nhớ chính gồm đến 2n word khả định địa chỉ, với mỗi word có một địa chỉ duy nhất n bit. Do yêu cầu ánh xạ, bộ nhớ này được xem như gồm một số các khối có độ dài cố định K word. Tức là chúng ta có M = 2n/K khối. Bộ nhớ cache gồm C khe K word, và số các khe, hay đường, nhỏ hơn đáng kể so với số khối bộ nhớ chính (C << M). Tại một thời điểm bất kỳ, luôn có một tập con gồm các khối nhớ thường trú trong các khe của cache. Nếu một word trong một khối bộ nhớ được đọc, khối đó sẽ được chuyển vào một trong các khe của cache. Do số khối nhiều hơn số khe, một khe có thể không được giành cho một khối trong thời gian lâu dài. Vì lý do đó, mỗi khe có một thẻ cho biết khối nào đang được lưu trữ. Thẻ thường là một phần của địa chỉ bộ nhớ chính của khối đang được giữ trong khe.



Hình 4.4: Tổ chức tiêu biểu của bộ nhớ cache



Hình 4.5 Cấu trúc cache/bộ nhớ chính

Hình 4.6 minh họa thao tác đọc. CPU sinh ra địa chỉ, RA, của một word cần đọc. Nếu word có trong cache, nó sẽ được giao cho CPU. Ngược lại, khối chứa word sẽ được tải vào trong cache, và word được giao cho CPU.



Hình 4.6 Thao tác đọc cache

VanPhuAnhTuan95(HLT3)

Tổng số bài gửi : 31
Join date : 16/03/2014

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Bộ nhớ của máy tính

Bài gửi  NguyenHaAn(I22A) on 17/3/2014, 22:32

1. Khái niệm về bộ nhớ
Bộ nhớ là thành phần quan trọng thứ hai trong hệ thống máy tính, không có bộ nhớthì máy tính không thể hoạt động được, trong máy tính có hai loại bộ nhớ hay dùng nhất là RAM và ROM
Bộ nhớ RAM ( Random Access Memory - Bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên ) : Bộ nhớ này lưu các chương trình phục vụ trực tiếp cho quá trình xử lý của CPU, bộ nhớ RAM chỉ lưu trữ dữ liệu tạm thời và dữ liệu sẽ bị xoá khi mất điện.
Bộ nhớ ROM ( Read Only Memory - Bộ nhớ chỉ đọc ) : đây là bộ nhớ cố định, dữ liệu không bị mất khi mất điện, bộ nhớ này dùng để nạp các chương trình BIOS ( Basic Input Output System - Chương trình vào ra cơ sở) đây là chương trình phục vụ cho quá trình khởi động máy tính và chương trình quản lý cấu hình của máy.
2. Ý nghĩa của bộ nhớ RAM trong máy tính
Bộ nhớ RAM là bộ nhớ không thể thiếu trong bất kỳ hệ thống máy tính nào, CPU chỉ có thể làm việc được với dữ liệu trên RAM vì chúng có tốc độ truy cập nhanh, toàn bộ dữ liệu hiển thị trên màn hình cũng được truy xuất từ RAM .
Khi ta khởi động máy tính để bắt đầu một phiên làm việc mới, hệ điều hành cùng với các trình điều khiển phần cứng được nạp lên bộ nhớ RAM .
Khi ta chạy một chương trình ứng dụng : Ví dụ Photoshop thì công cụ của chương trình này cũng được nạp lên bộ nhớ RAM
=> Tóm lại khi ta chạy bất kể một chương trình nào, thì công cụ của chương trình đó đều được nạp lên RAM trước khi có thể sửdụng được chúng.
Với một hệ thống để chạy đúng tốc độ thì khoảng trống của RAM phải còn khoảng 30% trở lên, nếu ta  sử dụng hết khoảng trống của Ram thì máy sẽ chạy chậm hoặc bị treo .
3. Khái niệm về ROM BIOS
ROM BIOS ( Read Only Memory Base Input Output System - Bộ nhớ chỉ đọc Lưu các chương trình vào ra cơ sở)
+ ROM BIOS là một IC được gắn cố định trên Mainboard (thường gắn nhưng không hàn ), và thường giao tiếp trực tiếp với Sourth Bridge .
+ Là bộ nhớ chỉ đọc nên ta không thể ghi dữ liệu vào ROM được, tuy nhiên khi nạp lại ROM ta vẫn có thể  ghi vào ROM bằng các thiết bị đặc biệt .
Dữ liệu trong ROM được các nhà sản xuất Mainboard nạp sẵn, dữ liệu này không bị mất khi mất điện, nó  bao gồm :
+ Các câu lệnh hướng dẫn cho CPU thực hiện quá trình POST máy ( Power On Self Test - Bật nguồn và kiểm tra )
+ Các thông báo lỗi bằng tiếng bíp hay bằng ký tự trên màn hình khi nó kiểm tra và phát hiện lỗi .
+ Bản ( Default) thiết lập cấu hình máy - CMOS Setup
+ Trình điều khiển bàn phím và các cổng vào ra .
4. RAM CMOS
Khái niệm về RAM CMOS
Là một chíp rất nhỏ nằm tích hợp trong Chipset cầu nam, RAM CMOS được nuôi bằng nguồn Pin 3V vì vậy dữ liệu trong RAM CMOS không bịmất khi tắt máy .
Nhiệm vụ của RAM CMOS 
+ Nhiệm vụ chính của RAM CMOS là lưu bảng thiết lập cấu hình của máy, cung cấp cho CPU trong quá  trình khởi động .
+ Khi ta bật máy tính, quá trình POST máy bắt đầu, CPU sẽ đọc và làm theo các hướng dẫn trong RAM  CMOS, nếu RAM CMOS bị mất dữ liệu ( ví dụ khi ta tháo Pin ra ) thì CPU sẽ đọc bản CMOS mặc định được ghi trên ROM BIOS.
 

NguyenHaAn(I22A)

Tổng số bài gửi : 11
Join date : 26/03/2013

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

CẤU TRÚC CỦA RAM

Bài gửi  VanPhuAnhTuan95(HLT3) on 18/3/2014, 13:05

RAM: Random Access Memory – bộ nhớ truy xuất bất kỳ còn gọi là bộ nhớ đọc viết (RWM: read write memory). Nghĩa là mọi địa chỉ nhớ đều cho phép dể dàng truy cập như nhau. Trong máy tính RAM được dùng như bộ nhớ tạm hay bộ nhớ nháp.

Ưu điểm chính của RAM đọc hay viết dữ liệu lưu trữ ở RAM bất cứ lúc nào.

Nhược điểm của RAM: do RAM là một dạng bộ nhớ bốc hơi nên khi mất điện dữ liệu sẽ bị xóa do đó cần nguồn nuôi pin – accu dự phòng (back up batterry).

       Tương tự như ROM, RAM  bao gồm một số thanh ghi, mỗi thanh ghi lưu trữ một từ dữ liệu và có địa chỉ không trùng lập. RAM thường có dung lượng 1K, 4K, 8K, 64K, 128K, 256K và 1024K với kích thước từ 1, 4 hay 8 bit (có thể mở rộng thêm).



Hình 4.16 minh họa cấu trúc của đơn giản của một RAM lưu trữ 64 từ 4 bit (bộ nhớ 64x4). Số từ này có địa chỉ trong khoảng từ 0 đến 6310. Để chọn 1 trong 64 địa chỉ để đọc hay ghi, một mã địa chỉ nhị phân sẽ được đưa vào mạch giải mã. Vì 64=26 nên bộ giải mã cần mã vào 6 bit.

 Hoạt động đọc (Read Operation)

       Mã địa chỉ nhận được từ chọn thanh ghi để đọc hoặc viết. Để đọc thanh ghi được chọn thì đầu vào đọc ghi () phải là logic 1. Ngoài ra đầu vào chip select   phải ở mức logic 0. Sự kết hợp giữa  = 1 và   = 0 sẽ cho phép bộ đệm đầu ra, sao cho nội dung của thanh ghi được chọn xuất hiện ở bốn đầu ra dữ liệu.

 = 1 cũng cấm bộ đệm đầu vào nên đầu vào dữ liệu không tác động đến bộ nhớ suốt hoạt động đọc.

 Hoạt động ghi (Write Operation)

       Để viết một từ 4 bit mới vào thanh ghi được chọn, khi đó cần phải có= 0 và   = 0. Tổ hợp này cho phép bộ đệm đầu vào, vì vậy từ 4 bit đã đặt vào dữ liệu sẽ được nạp vào thanh ghi đã chọn. = 0 cũng cấm bộ đệm đầu ra. Bộ đệm đầu ra là bộ đệm 3 trạng thái nên đầu ra dữ liệu sẽ ở trạng thái Hi-Z trong hoạt động ghi. Hoạt động ghi sẽ xóa bỏ từ nào đã được lưu trữ tại địa chỉ đó.

 Chọn chip (Chip Select)

Hầu hết các chip nhớ đều có một hay nhiều đầu vào CS dùng để cho phép toàn chip hoặc cấm nó hoàn toàn. Trong chế độ cấm, tất cả đầu vào và ra dữ liệu đều bị vô hiệu hóa (Hi-Z), chính vì vậy không hoạt động ghi đọc nào có thể xảy ra. Ngoài tên gọi CHỌN CHIP các nhà sản xuất còn gọi là CHIP ENABLE (CE). Khi đầu vào CS hay CE ở trạng thái tích cực thì chip nhớ đã được chọn còn ngược lại thì không được chọn. Tác dụng của chân CS hay CE là dùng để mở rộng bộ nhớ khi kết hợp nhiều chip nhớ với nhau.

 Các chân vào ra chung (Common Input Output)

       Để hạn chế số chân trong một IC, các nhà sản xuất thường kết hợp các chức năng nhập/xuất dữ liệu, dựa vào chân vào/ra (I/O). Đầu vào   điều khiển các chân vào/ra này.

       Trong hoạt động đọc, chân I/O đóng vai trò như đầu ra dữ liệu, tái tạo nội dung của ô nhớ được chọn. Trong hoạt động ghi, chân I/O là đầu vào dữ liệu, dữ liệu cần ghi được đưa vào đây.

VanPhuAnhTuan95(HLT3)

Tổng số bài gửi : 31
Join date : 16/03/2014

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 2

Bài gửi  PhanVietTrung(HLT3) on 18/3/2014, 19:10

Nhân hôm trước học bài có mục về giao diện của ứng dụng ( command line và giao diện đồ họa GUI) và ví dụ của thầy có nói đến cách tận dụng command line để thực hiện công việc một cách tuần tự giúp tiết kiệm thao tác( ví dụ ghi đĩa CD  Very Happy ), các bài viết về windows OS nói chung rất nhiều nên mình hôm nay sẽ ưu ái cho MAC  lol! , bài này trước đây ít ngày mình có đăng trên tinhte.vn tongue 
các bạn dùng Mac chắc hẳn biết đến một tool rất hữu ích của Mac OS là automator, do nhu cầu hay phải dịch văn bản mà trước đây mình phải copy qua google translate rất mất công, vì vậy mình đã tìm hiểu dùng atomator để dịch 1 đoạn văn bản qua google translater qua việc sử dụng menu chuột phải

1.Mở automator, chọn Service

2.Tại ô tìm kiếm Varibles gõ: applescript, sau đó kéo thả Run applescript vào cột bên tay phải

3. copy dán đoạn script này vào (cái này là apple script, một dạng command line nhiệm vụ là nhận đầu vào một chuỗi các bạn select bằng chuột sau đó chuyển thành một html request)
on run {input, parameters}
set output to "http://translate.google.com/translate_t?text="& urldecode(input as string) & "&langpair=auo%7Cen"
return output
end run
on urldecode(x)
set cmd to "'require \"cgi\"; puts CGI.escape(STDIN.read.chomp)'"
do shell script "echo " & quoted form of x & " | ruby -e " & cmd
end url decode

4.Tại ô tìm kiếm Varibles gõ: Website Popup, sau đó kéo thả Website popup vào, tùy chỉnh lại kích thước hiển thị như ý bạn mong muốn, ở đây mình chọn custom 800x400, cái này là một web pop up để thể hiện nội dung website google translate trả về


5.Save lại (cmd+s) với tên bất kì gợi nhớ, mình lấy tên là Google Translate.

6.Sử dụng: trong một app bất kì, bạn bôi đen 1 đoạn văn bản, ấn chuột phải, chọn service, chọn Service bạn mới lưu để dịch.


Chúc các bạn thành công.

PhanVietTrung(HLT3)

Tổng số bài gửi : 25
Join date : 09/03/2014

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

BỘ NHỚ CACHE

Bài gửi  dangthituyetnhungTH08a1 on 19/3/2014, 09:07

Admin đã viết:Thảo luận những vấn đề liên quan đến Bài 2.

Bộ nhớ cache

Lưu trữ dữ liệu tạm thời được trình duyệt Internet của bạn thu thập khi bạn lướt web, bao gồm những yếu tố từ các trang web mà bạn truy cập thường xuyên.

Dữ liệu bộ nhớ cache có thể bao gồm bất kỳ thông tin gì từ mật khẩu đến phản hồi mà bạn đã nhập trong các biểu mẫu trực tuyến.
Bạn có thể kiểm soát lưu trữ dữ liệu bộ nhớ cache của mình bằng cách chọn xóa dữ liệu bộ nhớ cache bất kỳ lúc nào.
Đôi khi bộ nhớ cache đầy có thể gây khó khăn trong việc tải các trang web hoặc biểu mẫu nhất định, bao gồm một số trang web hoặc biểu mẫu mà bạn có thể sử dụng trong tài khoản AdWords của mình. Khi điều này xảy ra, cách tốt nhất để khắc phục là xóa bộ nhớ cache của bạn để tạo chỗ trống cho bộ nhớ mới.

dangthituyetnhungTH08a1

Tổng số bài gửi : 41
Join date : 19/03/2014

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

So sánh đồng bộ (Synchronous) và không đồng bộ (Asynchronous)

Bài gửi  TranNguyenBinh(HLT3) on 19/3/2014, 21:06

1. Đồng Bộ (Synchronous):
Là khái niệm nói lên tính nguyên tắc, đòi hỏi các dữ liệu, tiến trình... có liên quan phải được kết nối, liên hệ theo một trình tự thực hiện, một định dạng,... cách thức cố định, không bao giờ thay đổi. Trong một chuỗi các hàm của một quy trình có “n” tác vụ, nếu nó được bảo là đồng bộ thì trình tự thực hiện các hàm đó sẽ không bao giờ thay đổi. Hàm A đã được thiết lập để được gọi và chạy trước hàm B thì dù có phải đợi dài cổ hàm B cũng phải chờ hàm A kết thúc mới được phép bắt đầu. Một dây chuyền sản xuất công nghiệp của một nhà máy có thể coi là một quá trình đồng bộ. Hay nói cách khác đó là CHỜ ĐỢI, nghĩa là tiến trình người dùng phải chờ cho đên khi quá trình nhập - xuất (I/O) kết thúc thì mới thực hiện tiếp tiến trình khác.
Ví Dụ: một vài ứng dụng hay game có yêu cầu bạn "press any key" để vào game hay "start"

2. Không Đồng Bộ (Asynchronous):
Là một khái niệm có thể nói là ngược lại với Synchronous. Nó nói lên sự thiếu chặt chẽ, tính liên kết yếu, quản lý vô cùng khó khăn tuy nhiên lại uyển chuyển và khả năng tùy biến cao. Trong một chuỗi các hàm của một quy trình có “n” tác vụ, nếu nó được bảo là bất đồng bộ thì có nghĩa là cho dù hàm B được gọi sau hàm A nhưng không ai đảm bảo được rằng hàm A sẽ phải kết thúc trước hàm B và hàm B bắt buộc phải chỉ được gọi chạy khi hàm A kết thúc. Hay nói cách khác là KHÔNG CHỜ ĐỢI, tiến trình người dùng sẽ được làm việc đồng thời song song với nhập - xuất.
Ví dụ : 1 bộ máy quản lý nhà nước thiếu đồng bộ thì người dân có thể lách luật để trục lợi từ hệ thống đó như vụ tham nhũng của Vinashin....

TranNguyenBinh(HLT3)

Tổng số bài gửi : 42
Join date : 18/03/2014
Age : 26
Đến từ : Tiền Giang

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Nguyên lý sử lý ngắt của Hệ Điều Hành

Bài gửi  TranNguyenBinh(HLT3) on 19/3/2014, 21:13

Gồm có 2 loại Ngắt chính: Ngắt cứng và Ngắt mềm
+ Tín hiệu ngắt: (Interrupt Signal) từ các thiết bị (Ngắt cứng) truyền qua System Bus
+ Tín hiệu ngắt từ chương trình người dùng (Ngắt mềm) nhờ lời gọi hệ thống (system call hay monitor call). Lệnh đặc biệt này (ví dụ có tên INT hoặc SysCall) là cơ chế để tiến trình người dùng yêu cầu một dịch vụ của HĐH (ví dụ yêu cầu thực hiện I/O)
+ Với mỗi loại ngắt, có đoạn mã riêng của HĐH dùng để xử lý
+ Các HĐH hiện đại được dẫn dắt bởi các sự kiện. Nếu không có tiến trình nào vận hành, không có thiết bị I/O nào làm việc, HĐH im lặng chờ và theo dõi.
+ Thông thường mỗi loại ngắt tương ứng với một dòng trong bảng (Vecto Ngắt) chứa con trỏ (Pointer) tới chương trình xử lý loại ngắt đó, Bảng này nằm ở vùng thấp của Ram (ví dụ: 100 bytes đầu tiên)
+ Cơ chế xử lý ngắt phải có trách nhiệm ghi lại địa chỉ lệnh bị ngắt để sau đó có thể quay lại. Địa chỉ này cùng với nhiều thông tin khác có thể được ghi vào (Ngăn xếp hệ thống) (system stack) với nguyên tắc làm việc LIFO (last in first out)

->Tóm lại có thể hiểu như sau:
+ Tín hiệu ngắt cứng là tín hiệu phát ra từ phần cứng của máy tính ví dụ như là tín hiệu của Ram khi bị duml hoặc là hư hỏng
+ Tín hiệu ngắt mềm là tín hiệu phát ra từ chương trình ứng dụng khi người dùng làm việc, ví dụ như là một cảnh báo hay là thông báo lỗi , như chúng ta copy 1 file dữ liệu có dung lượng quá lớn như 600MB vào USB có dung lượng 2GB nhưng USB chỉ còn không gian lưu là 300MB chẳng hạn thì lúc đó sẽ xãy ra một thông báo của chương trình nói là không đủ bộ nhớ để lưu file.

TranNguyenBinh(HLT3)

Tổng số bài gửi : 42
Join date : 18/03/2014
Age : 26
Đến từ : Tiền Giang

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Sự khác nhau giữa Thông dịch và Biên dịch

Bài gửi  NguyenXuanLinh(HLT3) on 22/3/2014, 00:20

Biên dịch (Compiler):

- Chương trình được viết được biên dịch ra thành ngôn ngữ máy trên một HDH xác định trước và chỉ chạy trên HDH đó (C++ -> .exe chỉ chạy trên Win, C++ -> .o chạy trên Unix/Linux …..)

- Ưu điểm của trình biên dịch là chương trình được tối ưu tốt cho HĐH và kiến trúc phần cứng ngay lúc dịch sang mã máy.


- Tuy quá trình này tốn thời gian, nhưng chỉ thực hiện có 1 lần mà thôi.

- Trình biên dịch tạo ra file executable lúc này đã là mã máy, nên trên đĩa nó bao nhiêu thì load lên memory nó sẽ xấp xỉ bấy nhiêu.


Thông dịch (Interpreter):

 - Trong thông dịch thì mã nguồn không được dịch trước thành ngôn ngữ máy mà mỗi lần cần chạy chương trình thì mã nguồn mới được dịch để thực thi từng dòng 1 (line by line). Tất cả các ngôn ngữ không biện dịch ra mã máy điều phải sử dụng trình thông dịch (PHP, WScripts, Perl, Linux Shell, Python….). Các ngôn ngữ theo trình thông dịch thường được gọi là script (kịch bản)

- Trình thông dịch thì có ưu điểm là có thể chạy trên nhiều HĐH và kiến trúc máy tính khác nhau, miễn là có bộ thông dịch tương ứng trên HDH.

- Trình thông dịch thì mỗi lần chạy sẽ chuyển chương trình sang mã máy, mỗi lần dịch thì thời gian tốt ít thôi, nhưng bù lại có thể lần nào chạy cũng phải dịch (trừ khi bộ thông dịch cache lại kết quả của lần dịch trước đó).

- Trình thông dịch thì trên memory còn có bộ thông dịch, và bộ thông dịch phải load chương trình nguồn lên rồi dịch thành mã máy…cho nên thường quá trình chạy 1 chương trình thông dịch sẽ tốn memory hơn.

NguyenXuanLinh(HLT3)

Tổng số bài gửi : 27
Join date : 11/03/2013
Age : 28
Đến từ : Hồ Chí Minh

Xem lý lịch thành viên http://www.ytuong24h.net

Về Đầu Trang Go down

Phân loại và đặc tính của thiết bị nhập xuất

Bài gửi  VoMinhQuang (HLT3) on 22/3/2014, 12:34

Phân loại:

  • Thiết bị khối: thông tin được đọc/ ghi theo từng khối có kích thước cố định và có địa chỉ xác định, ví dụ: đĩa là một thiết bị khối.


  • Thiết bị tuần tự: thông tin được gởi/ nhận theo dãy tuần tự các bit, không có địa chỉ, ví dụ: màn hình, bàn phím, máy in, card mạng, chuột là thiết bị tuần tự.


  • Thiết bị khác: có một số các thiết bị không phù hợp với 2 loại trên, ví dụ: đồng hồ.

Đặc tính:

  • Tốc độ truyền dữ liệu: ví dụ bàn phím: 0.01 KB/s, chuột: 0.02KB/s,...


  • Dung lượng lưu trữ, thời gian truy xuất một đơn vị dữ liệu.


  • Công dụng: dùng để nhập hay xuất.


  • Đơn vị truyền dữ liệu: truyền theo khối hoặc ký tự.


  • Biểu diễn dữ liệu: điều này tuỳ thuộc vào từng thiết bị cụ thể.


  • Tình trạng lỗi: nguyên nhân gây ra lỗi, cách mà thiết bị báo lỗi,...


VoMinhQuang (HLT3)

Tổng số bài gửi : 20
Join date : 09/03/2014

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Quá trình khởi động của máy tính để bàn

Bài gửi  NguyenHuuSonLam(TH10A1) on 22/3/2014, 14:31

Các hệ thống tính toán hoạt động được nhờ bộ xử lý trung tâm (hay một tập hợp các bộ xử lý), chỉ có thể thực thi các đoạn mã ở bộ nhớ điều hành, được biết đến với tên gọi là bộ nhớ hệ thống, với nhiều loại tùy thuộc vào công nghệ sản xuất như: ROM (Read-Only Memory - bộ nhớ chỉ đọc), hay RAM (Random Access Memory - bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên). Mã của các hệ điều hành, các chương trình ứng dụng và dữ liệu hiện nay thường được lưu trữ trên các bộ nhớ bền, bộ nhớ ngoại vi, hay bộ nhớ thứ cấp. Các ví dụ của các loại bộ nhớ đó là: hard disk (ổ cứng), CD, USB, đĩa mềm. Khi một máy tính được bật, ban đầu nó dựa hoàn toàn vào các mã và dữ liệu nằm trên những phần có sẵn của bản đồ bộ nhớ hệ thống, như ROM, NVRAM hay CMOS RAM. Các đoạn mã và dữ liệu "cứng" được lưu trữ trên bản đồ bộ nhớ hệ thống này là những hướng dẫn cần thiết tối thiểu để truy nhập vào những thiết bị cứng ngoại vi và nạp vào bộ nhớ hệ thống tất cả những phần cần thiết của hệ điều hành. Có thể nói trong khoảng thời gian khởi động máy tính, hệ thống máy tính không có hệ điều hành nào trong bộ nhớ trong. Tuy nhiên, nếu chỉ có phần cứng máy tính không thôi (vi xử lý hay bộ nhớ hệ thống) thì không thể thực hiện được những thao tác phức tạp để nạp các tệp tin chương trình từ hệ thống lưu trữ vào bộ nhớ, mà đây vốn là một trong những tác vụ quan trọng nhất.

Chương trình giúp bắt đầu một chuỗi các lệnh được kết thúc bằng việc toàn bộ hệ điều hành được nạp vào hệ thống gọi là "bootstrap loader". Những nhà thiết kế máy tính thời kỳ đầu đã từng có ý tưởng: trước khi một máy tính ở trạng thái hoạt động hoạt động, nó phải trải qua một giai đoạn khởi động hay "mồi". Do đó, để thiết lập trạng thái hoạt động cho hệ thống máy tính, một chương trình đặc biệt, dung lượng nhỏ, gọi là "trình nạp khởi động" (tiếng Anh: "bootstrap loader" hay "bootstrap" hay "boot loader"), sẽ được thực thi trước tiên. Chương trình này chỉ có nhiệm vụ duy nhất là nạp các phần mềm khác để hệ điều hành có thể bắt đầu hoạt động. Thường thì trình nạp khởi động gồm nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn là một chương trình nhỏ hơn được thực hiện tuần tự, sau khi chương trình này kết thúc sẽ gọi tiếp đến chương trình kia, cho đến khi chương trình cuối cùng nạp hệ điều hành.

Những máy tính thời kỳ đầu có một dãy công tắc chuyển mạch (toggle switch) ở bảng điều khiển cho phép người điều hành có thể nhập bằng tay những lệnh khởi động bằng dưới dạng các số hệ nhị phân vào bộ nhớ trước khi chuyển tiếp điều khiển cho CPU. Trình nạp khởi động sau đó sẽ đọc hệ điều hành từ một bộ nhớ ngoài như băng đục lỗ, thẻ đục lỗ, hay đĩa nhớ.


NguyenHuuSonLam(TH10A1)

Tổng số bài gửi : 35
Join date : 14/03/2014

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Trình bày mô hình phân cấp các loại bộ nhớ trong máy tính?

Bài gửi  NguyenHuuSonLam(TH10A1) on 22/3/2014, 14:37

Có 2 bộ nhớ chính(Main Memory):
- Bộ nhớ chính
+ Chương trình máy tính phải nạp vào RAM (Random-Access Memory) trước khi thực hiện.
+ Lệnh cần thực hiện phải được nạp vào thanh ghi (Register) của CPU
+ Các tác tử (Operand) tương ứng cũng được lấy từ RAM.
+ Lý tưởng nhất là chương trình và dữ liệu đều nằm trong RAM nhưng không khả thi vì RAM quá nhò và là loại bộ nhớ không chắc (Volatile) do nội dung bị xóa khi mất điện.
+ RAM được sử dụng làm bộ nhớ sơ cấp (Primary Memory) so với bộ nhớ trên các thiết bị ngoài.
- Đĩa từ:
+ Dung lượng lớn.
+ Giá rẻ.
+ Dùng chứa chương trình và dữ liệu.
+ Nội dung không bị xóa khi mất điện.
+ Được sử dụng làm bộ nhớ thứ cấp so với RAM.

NguyenHuuSonLam(TH10A1)

Tổng số bài gửi : 35
Join date : 14/03/2014

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Nhập xuất đồng bộ , và không đồng bộ

Bài gửi  NguyenHuuSonLam(TH10A1) on 22/3/2014, 14:42

Synchronous I/O: Sau khi phát ra lệnh Nhập/Xuất, tiến trình chuyển sang trạng thái chờ đến khi Nhập/Xuất hoàn tất rồi mới chạy tiếp (thực hiện lệnh kế tiếp)
Ví dụ: Khi ta tạo mới một tài liệu nhập dữ liệu từ bàn phím, khi muốn lưu lại ta phải chọn Save, sau đó đặt tên file, và chọn nơi lưu trữ. Các tiến trình đó ở trạng thái chờ tiến trình trước nhập xuất hoàn tất đã.

- ASynchronous I/O: Sau khi phát ra lệnh Nhập/Xuất, tiến trình không chờ Nhập/Xuất hoàn tất mà thực hiện ngay lệnh kế tiếp. Như vậy, tiến trình vận hành song song với công việc Nhập/Xuất.
Để chứng minh điều đó, hãy xem hình vẽ sau:
Ví dụ: Khi ta nhập dữ liệu mới hoặc thêm vào tài liệu đã có, khi ta muốn lưu thì ta chọn Save và lúc này tiến trình vận hành song song với việc phát ra lệnh từ Save.

NguyenHuuSonLam(TH10A1)

Tổng số bài gửi : 35
Join date : 14/03/2014

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

trình bày nguyên lý lưu gần

Bài gửi  NguyenHuuSonLam(TH10A1) on 22/3/2014, 14:44

Trình bày nguyên lý lưu gần (caching) sử dụng trong máy tính
Là nguyên tắc quan trọng của hệ thống máy tính.
- Thông tin từ RAM có thể được cơ chế phần cứng đưa vào bộ nhớ nhanh hơn gọi là Cache. Khi CPU cần chính thông tin đó, không cần phải truy xuất RAM, mà lấy ngay từ Cache.
- Loại bộ nhớ này không do HĐH quản lý và cấp phát.
- Thực tế, RAM (Bộ nhớ Sơ cấp) là loại Cache nhanh so với đĩa cứng (Bộ nhớ thứ cấp) và HĐH có chức năng quản lý sự lưu chuyển dữ liệu giữa 2 loại bộ nhớ này

Theo mình nghĩ bộ nhớ Cache la :
-Bộ nhớ Cache là bộ nhớ nằm bên trong của CPU, nó có tốc độ
truy cập dữ liệu theo kịp tốc độ xủa lý của CPU, điều này khiến
cho CPU trong lúc xử lý không phải chờ dữ liệu từ RAM vì dữ
liệu từ RAM phải đi qua Bus của hệ thống nên mất nhiều thời
gian.
- Một dữ liệu trước khi được xử lý , thông qua các lệnh gợi ý của
ngôn ngữ lập trình, dữ liệu được nạp sẵn lên bộ nhớ Cache, vì
vậy khi xử lý đến, CPU không mất thời gian chờ đợi .
Khi xử lý xong trong lúc đường truyền còn bận thì CPU lại
đưa tạm kết quả vào bộ nhớ Cache, như vậy CPU không mất
thời gian chờ đường truyền được giải phóng .
- Bộ nhớ Cache là giải pháp làm cho CPU có điều kiện hoạt động
thường xuyên mà không phải ngắt quãng chờ dữ liệu, vì vậy
nhờ có bộ nhớ Cache mà hiệu quả xử lý tăng lên rất nhiều, tuy
nhiên bộ nhớ Cache được làm bằng Ram tĩnh do vậy giá thành
của chúng rất cao

vai trò của bộ nhớ Cache

Có hai loại Cache cơ bản đó là Cache L1 và Cache L2. Bất kể một máy PC nào đều tỏ ra rất hữu hiệu khi dùng cache.Cache này thường có ở Chíp, Ram và cả trên ổ cứng. Bằng cách đọc nhiều dữ liệu hơn là trình ứng dụng đòi hỏi, dữ liệu cần thiết cho ứng dụng đó đã nằm sẵn sàng trong bộ nhớ cache. Do đọc dữ liệu từ cache nhanh hơn đọc từ đĩa cứng nên tốc độ của cả hệ thống cũng như của ứng dụng tăng đáng kể. Cache càng lớn thì CPU càng ít phải dùng đến bộ nhớ chính để lưu thông tin và lệnh, nhờ vậy tốc độ hệ thống nhanh hơn. Trong 2 loại Cache thì Cache L1 thường nhỏ hơn, nhanh hơn và hiệu quả hơn Cache L2. Để hiểu một cách thực tế thì Cache là một bộ đệm của máy tính nó là vùng lưu trữ các dòng lên hoặc các thông tin nhăm tăng tốc cho các quá trình xử lỹ thông tin dữ liệu mà không cần phải thông qua các thiết bị lưu trữ khác

NguyenHuuSonLam(TH10A1)

Tổng số bài gửi : 35
Join date : 14/03/2014

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Nguyên lý bảo vệ phần cứng ban82ng 2 chế độ vận hành

Bài gửi  NguyenHuuSonLam(TH10A1) on 22/3/2014, 14:44

Nguyên lý bảo vệ phần cứng bằng 2 chế độ vận hành:

1. User Mode:
- Chế độ người dùng là một trong hai phương thức thực hiện riêng biệt cho CPU (đơn vị xử lý trung tâm).

- Thay đổi trong chế độ này được gọi là một chuyển đổi chế độ, không nên nhầm lẫn với một chuyển ngữ cảnh (tức là, việc chuyển đổi của CPU từ một quá trình khác). Thủ tục tiêu chuẩn để chuyển đổi từ chế độ người dùng sang chế độ hạt nhân là để gọi phần mềm gián đoạn 0x80.

- Đó là một chế độ không có đặc quyền, trong đó mỗi quá trình (ví dụ, một ví dụ chạy của một chương trình) bắt đầu. Nó không có đặc quyền ở chỗ nó là cấm cho các quá trình trong chế độ này để truy cập vào những phần của bộ nhớ (tức là, RAM) đã được phân bổ cho các hạt nhân hoặc các chương trình khác. Hạt nhân là không phải là một quá trình, nhưng là một bộ điều khiển các quá trình, và nó một mình có quyền truy cập cho tất cả các tài nguyên trên hệ thống.

- Khi một quá trình chế độ người dùng (ví dụ, một quá trình đang trong chế độ người dùng) muốn sử dụng một dịch vụ được cung cấp bởi hạt nhân (tức là, truy cập tài nguyên hệ thống hơn so với không gian bộ nhớ hạn chế được phân bổ cho chương trình người dùng), nó phải chuyển đổi tạm thời vào chế độ hạt nhân, trong đó có đặc quyền gốc (tức là, hành chính), bao gồm các quyền truy cập root (tức là, cho phép truy cập vào bất kỳ không gian bộ nhớ hoặc tài nguyên khác trên hệ thống). Khi hạt nhân đã đáp ứng yêu cầu của quá trình, khôi phục lại quá trình chế độ người dùng.

- Gián đoạn một là một tín hiệu cho hệ điều hành là một sự kiện đã xảy ra, và nó kết quả trong những thay đổi trong trình tự của các hướng dẫn được thực hiện bởi CPU. Trong trường hợp một ngắt phần cứng, tín hiệu bắt nguồn từ một thiết bị phần cứng như một bàn phím (ví dụ, khi một người dùng nhấn một phím), chuột hoặc đồng hồ hệ thống (một mạch mà tạo ra các xung khoảng thời gian chính xác mà đang được sử dụng để phối hợp của máy tính hoạt động). Một phần mềm gián đoạn là một gián đoạn bắt nguồn từ phần mềm, thường là bằng một chương trình trong chế độ người dùng.

2. Monitor Mode:
- Chế độ tiến trình hệ thống
Mode bit : 0 - Monitor mode
1 - User mode
.

NguyenHuuSonLam(TH10A1)

Tổng số bài gửi : 35
Join date : 14/03/2014

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Trình bày tổ chức phân cấp các loại bộ nhớ dùng trong máy tính

Bài gửi  NguyenQuocCuong(HLT3) on 22/3/2014, 23:46



Nguyên Lý lưu gần (Caching)

Cache (bộ nhớ đệm): Là 1 nguyên tắc quan trọng của hệ thống máy tính - kĩ thuật làm tăng tốc độ xử lí của máy tính.
Cơ bản là khi bạn nhấp đấp vào một chương trình để chạy thì quá trình thực thi sẽ tiến hành qua các bước:
- Bước 1: Chương trình lưu trong ổ đĩa cứng sẽ được đưa vào bộ nhớ Ram.
- Bước 2: CPU sử dụng mạch phần cứng (memory controller) để tải dữ liệu chương trình từ bộ nhớ Ram.
- Bước 3: Lúc này dữ liệu bên trong CPU sẽ xử lí.
- Bước 4: CPU thực thi dữ liệu đã được xử lí. Ví dụ thực thi chương trình hoặc hiển thị kết quả in ra màn hình.

Nguyên lí hoạt động: Khi một chương trình được truy xuất từ ổ đĩa thì bộ nhớ Cache được kiểm tra.
Trường hợp 1: Nếu dữ liệu có sẵn trong Cache thì sẽ tiến trình thực hiện ngay.
Trường hợp 2: Nếu dữ liệu chưa có sẵn trong Cache thì dữ liệu sẽ sao lưu tới Cache và sử dụng.

=> Cache (bộ nhớ đệm) là một cơ chế lưu trữ tốc độ cao đặc biệt, nơi lưu trữ các dữ liệu nằm chờ các chương trình ứng dụng hay phần cứng xử lí. Mục đích của quá trình này là tăng tốc độ xử lí cho máy tính , vì chỉ cần truy cập vào bộ nhớ Cache một cách tức thời đã được lưu trữ sẵn thay vì đợi phải khi truy cập vào dữ liệu trong bộ nhớ Ram => CPU càng truy cập vào bộ nhớ đệm có sẵn dữ liệu trong Cache thay vì vào Ram nhiều hơn thì hệ thống sẽ làm việc nhanh hơn.
Nên nhớ Cache có thể là một vùng lưu trữ của bộ nhớ chính hay một thiết bị lưu trữ cao độc lập.
Hiện nay có 2 dạng lưu trữ Cache được dùng phổ biến là Memory Caching (bộ nhớ Cache hay bộ nhớ truy xuất nhanh) và Disk Caching (bộ nhớ đệm đĩa).
Mục đích:
+ Là nguyên tắc quan trọng của hệ thống máy tính.
+ Thông tin từ RAM có thể được cơ chế phần cứng đưa vào bộ nhớ nhanh hơn gọi là Cache. Khi CPU cần chính thông tin đó, không cần phải truy xuất RAM, mà lấy ngay từ Cache.
+ Loại bộ nhớ này không do HĐH quản lý và cấp phát.
+ Thực tế, RAM (Bộ nhớ Sơ cấp) là loại Cache nhanh so với đĩa cứng (Bộ nhớ thứ cấp) và HĐH có chức năng quản lý sự lưu chuyển dữ liệu giữa 2 loại bộ nhớ này

VD1: Ở các nhà ăn khi ta dùng cơm ta dùng 1 cái khay dùng để dựng thức ăn rồi đi đến quầy để lấy cơm, thức ăn mình thích, trái cây tráng miệng, ly nước.... lấy 1 lần rồi sau đó mang đến bàn ngồi ăn một cách tiện lợi và nhanh mà không cần phải tốn công tới lui để lấy thức ăn.

VD2:Sẽ rất tiện lợi và nhanh chóng nếu ta chuẩn bị hết tất cả các gia vị, thịt, rau củ quả... để ngay cạnh mình tại bếp trước khi ta bắt tay vào nấu một món ăn mà có thể là tốt khá nhiều thời gian.

VD3: Ngày xưa người ta hay xách nước từ sông hay suối về và đựng tạm trong 1 cái lu hay cái hồ để khi cần dùng thì có thể lấy nước thật nhanh chóng.

NguyenQuocCuong(HLT3)

Tổng số bài gửi : 15
Join date : 15/03/2014

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Trình bày nguyên lý bảo vệ phần cứng với 2 chế độ vận hành của máy tính

Bài gửi  NguyenQuocCuong(HLT3) on 23/3/2014, 00:25

Hệ điều hành hiện đại dùng cơ chế Dual-Mode để duy trì 2 chế độ là User Mode và Monitor Mode (còn gọi là Supervisor Mode, System Mode hoặc Privileged Mode) để bảo vệ hệ thống và các tiến trình đang vận hành.

- Một Mode Bit được đưa vào phần cứng của máy để chỉ báo chế độ làm việc hiện hành: 0 - Monitor Mode, 1 - User Mode.
- Khi xảy ra ngắt, phần cứng chuyển từ User Mode sang Monitor Mode bằng cách đặt Mode Bit thành 0.
- Hệ điều hành đặt Mode Bit bằng 1 trước khi trả điều khiển về tiến trình người dùng.
- Một số lệnh máy chỉ thực hiện được trong Monitor Mode (Các lệnh ưu tiên).
- Tiến trình người dùng có thể gián tiếp thực hiện các lệnh ưu tiên qua Lời gọi hệ thống (System Call).
- MS-DOS không có Dual-Mode.
- Bộ xử lý Pentium hỗ trợ Mode bit, do đó các HĐH Windows 2000/XP/2003/Vista và OS/2 tận dụng được tính năng này để bảo vệ máy tính tốt hơn.

NguyenQuocCuong(HLT3)

Tổng số bài gửi : 15
Join date : 15/03/2014

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Nguyên tắt xữ lý ngắt của hệ điều hành (ngắt cứng và ngắt mềm)

Bài gửi  NguyenTrungTruc(HLT3) on 23/3/2014, 02:07

Khái niệm : Mỗi khi một thiết bị phần cứng hay một chương trình cần đến sự giúp
đỡ của CPU nó gửi đi một tín hiệu hoặc lệnh gọi là ngắt đến bộ vi xử lý chỉ
định một công việc cụ thể nào đó mà nó cần CPU thực hiện .Khi bộ vi xử lý
nhận được tín hiệu ngắt nó thường tạm ngưng tất cả các hoạt động khác và
kích hoạt một chương trình con đang có trong bộ nhớ gọi là chương trình xử
lý ngắt tương ứng với từng số liệu ngắt cụ thể .Sau khi chương trình xử lý
ngắt làm xong nhiệm vụ, các hoạt động của máy tính sẽ tiếp tục lại từ nơi đã
bị tạm dừng lúc xảy ra ngắt .
Ngắt(interrupt) là khả năng tạm dừng chương trình chính dể thực hiện
chương trình khác gọi là chương trình con xử lý ngắt.

Phân loại ngắt:
- Ngắt cứng: do các linh kiện điện tử tác đông lên hệ thống
- Ngắt mềm: là ngắt được gọi bằng một lệnh trong chương trình ngôn ngữ máy

Hình ảnh minh hoạ:

NguyenTrungTruc(HLT3)

Tổng số bài gửi : 17
Join date : 09/03/2014

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 2

Bài gửi  vothihongngoc72 (HLT3) on 23/3/2014, 08:30

NGUYÊN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ ĐIỀU HÀNH ĐA CHƯƠNG
Hệ điều hành đa chương(Multiprogramming System): Đây là hệ cho phép nhiêù công việc chạy cùng một lúc.Cùng chia sẻ quyền sử dụng CPU theo một thuật toán nào đó.Ví dụ như Windows 3.1 , Windows 9x....Nhìn chung :
1: Có nhiều tác vụ ( tiến trình ) cùng một lúc được nạp đồng thời vào bộ nhớ chính.
2: Thời gian xử lý của CPU được phân chia giữa các tác vụ đó.
3: Tận dụng được thời gian rảnh tăng hiệu suất sử dụng CPU (CPU utilization)
4: Và khi một tác vụ không cần đến CPU ( do phải thực hiện I/O với thiết bị ngoại vi) thì tác vụ khác được thi hành.
5: Yêu cầu:
- Đồng thời công việc ( job scheduling): chọn job trong job pool trên đĩa và nạp nó vào bộ nhớ để thực thi.
- Quản lý bộ nhớ ( .Memorymanagement).
- Định thơì CPU ( CPU scheduling)
- Cấp phát tài nguyên ( đĩa,máy in...)
- Bảo vệ.

vothihongngoc72 (HLT3)

Tổng số bài gửi : 28
Join date : 16/03/2014

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 2

Bài gửi  Sponsored content


Sponsored content


Về Đầu Trang Go down

Trang 1 trong tổng số 2 trang 1, 2  Next

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết