Thảo luận Bài 3

Trang 6 trong tổng số 7 trang Previous  1, 2, 3, 4, 5, 6, 7  Next

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

Bài 3: Những câu hỏi lý thuyết ( Có 4 câu )

Bài gửi  NguyenMinhTuan (I22B) on 1/4/2013, 01:15

Câu 1: Trình bày những bộ phận cấu thành kính HĐH
Câu 2: Phân tích vai trò và chức năng của bộ thông dịch lệnh ( Command – Interpreter ). Qua đó phân biệt thông dịch với biên dịch.
Câu 3: Phân tích 2 mô hình liên lạc giữa các tiến trình: Truyền thông điệp ( Massage – Passing ) & Dùng bộ nhớ chung ( Shared – Memory ). Vẽ hình.
( Khi dùng chung bộ nhớ người lập trình phải đối mặt với đồng bộ hóa sử dụng vùng bộ nhớ chung đó không? )
Câu 4: Phân tích vai trò của máy ảo trong thực tế. Nguyên lý máy ảo? So sánh Virtual PC & VMWare.

P/s: Mỗi câu đều có ví dụ minh họa từ đời thường mới có điểm nhé các bạn. Nếu bạn nào biết câu trả lời thì post quote vào đây nhé để mọi người có thể dễ dàng xem. Chúc các bạn có nhưng câu trả lời chính xác nhất. hj
-> Trong quá trình ghi bài nếu có chỗ nào sai hoặc thiếu xót mong các bạn sửa giùm mình luôn nhé.Tks lol!

NguyenMinhTuan (I22B)

Tổng số bài gửi : 19
Join date : 08/03/2013

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Trình bày nguyên lý cấu trúc của máy tính ảo và những lợi ích của máy tính ảo.

Bài gửi  PhamThiThao (I22B) on 1/4/2013, 21:59

Máy tính ảo:
- Là sự phát triển lô-gic của kiến trúc phân lớp.
- Bằng cách điều phối CPU và kỹ thuật bộ nhớ ảo, có thể tạo cho người dùng ảo giác rằng người đó đang dùng bộ xử lý, bộ nhớ và các thiết bị của riêng mình.
- Nói cách khác: Máy tính ảo của người dùng được giả lập trên nền máy tính vật lý.
VD: Trên nền CPU loại PowerPC, Motorola, Alpha,… có thể giả lập máy tính ảo Intel chạy HĐH windows và ngược lại. Khi đó các lệnh của Intel được chuyển đổi sang lệnh vật lý trước khi thực hiện.

Ích lợi của máy tính ảo:
- Tính bảo mật cao do các máy ảo độc lập với nhau. Các tài nguyên của máy vật lý được bảo vệ hoàn toàn vì các máy tính ảo có thiết bị ảo (ví dụ, ổ đĩa ảo). Có thể lấy từ Internet về một chương trình lạ và thử chạy trên máy ảo mà không sợ bị ảnh hưởng (VD như virut) vì nếu có sao thì cũng chỉ hỏng máy ảo.
- Dễ phát triển hệ thống (System Development) mà không sợ làm ảnh hưởng đến công việc toàn hệ máy đang vận hành. HĐH là chương trình phức tạp,cần liên tục thử nghiệm, tinh chỉnh, hoàn thiện và nâng cấp. Có thể tiến hành phát triển hệ thống trên một máy ảo thay vì làm trên máy thực. Thành công rồi mới chuyển nhanh sang máy thực (máy vật lý).
VD:1 số phần mềm như VMWare, Virtual PC, VirtualBox .

PhamThiThao (I22B)

Tổng số bài gửi : 54
Join date : 19/03/2013

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Vai trò và chức năng của bộ thông dịch lệnh ( Command - Interpreter)

Bài gửi  PhamThiThao (I22B) on 1/4/2013, 21:59

Chức năng: lấy câu lệnh tiếp theo và thực thi nó. (Các câu lệnh giải quyết việc: tạo, hủy, xem thông tin tiến trình, hệ thống. Điều khiển truy cập I/O. Quản lý, truy cập hệ thống lưu trữ thứ cấp. Quản lý, sử dụng bộ nhớ. Truy cập hệ thống file...)
Vai trò:
- Là giao diện chủ yếu giữa người dùng và HĐH. Ví dụ: shell, mouse - based window - and - menu
- Liên hệ chặt chẽ với các thành phần khác. của HĐH để thực thi các yêu cầu của người dùng

PhamThiThao (I22B)

Tổng số bài gửi : 54
Join date : 19/03/2013

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Kỷ thuật máy ảo ( Virtual Machines ) với những ưu điểm và nhược điểm

Bài gửi  NguyenBaoLoc70(I22A) on 3/4/2013, 21:21

* Máy tính ảo:
- Là sự phát triển lô-gic của kiến trúc phân lớp.
- Bằng cách điều phối CPU và kỹ thuật bộ nhớ ảo, có thể tạo cho người dùng ảo giác rằng người đó đang dùng bộ xử lý, bộ nhớ và các thiết bị của riêng mình.
- Nói cách khác: Máy tính ảo của người dùng được giả lập trên nền máy tính vật lý.
VD: Trên nền CPU loại PowerPC, Motorola, Alpha,… có thể giả lập máy tính ảo Intel chạy HĐH windows và ngược lại. Khi đó các lệnh của Intel được chuyển đổi sang lệnh vật lý trước khi thực hiện.
* Ích lợi của máy tính ảo:
- Tính bảo mật cao do các máy ảo độc lập với nhau. Các tài nguyên của máy vật lý được bảo vệ hoàn toàn vì các máy tính ảo có thiết bị ảo (ví dụ, ổ đĩa ảo). Có thể lấy từ Internet về một chương trình lạ và thử chạy trên máy ảo mà không sợ bị ảnh hưởng (VD như virut) vì nếu có sao thì cũng chỉ hỏng máy ảo.
- Dễ phát triển hệ thống (System Development) mà không sợ làm ảnh hưởng đến công việc toàn hệ máy đang vận hành. HĐH là chương trình phức tạp,cần liên tục thử nghiệm, tinh chỉnh, hoàn thiện và nâng cấp. Có thể tiến hành phát triển hệ thống trên một máy ảo thay vì làm trên máy thực. Thành công rồi mới chuyển nhanh sang máy thực (máy vật lý).
VD:1 số phần mềm như VMWare, Virtual PC, VirtualBox .
* Nhược điểm của máy tính ảo:
Vấn đề bảo mật và lưu trữ vật lý. Thông thường, mỗi máy ảo chỉ dùng một tập tin để lưu tất cả những gì diễn ra trong máy ảo. Do đó nếu bị mất tập tin này xem như mất tất cả.
Nếu máy tính có cấu hình phần cứng thấp nhưng cài quá nhiều chương trình máy ảo, máy sẽ chậm và ảnh hưởng đến các chương trình khác.
Do tập trung vào một máy tính, nếu máy bị hư thì toàn bộ các máy tính ảo đã thiết lập trên nó cũng bị ảnh hưởng theo.
Ở góc dộ bảo mật, nếu hacker nắm quyền điều khiển máy tính chứa các máy ảo thì hacker có thể kiểm soát được tất cả các máy ảo trong nó.

NguyenBaoLoc70(I22A)

Tổng số bài gửi : 12
Join date : 20/03/2013

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Chức năng và ứng dụng của Phần mềm Virtual PC

Bài gửi  BuiTrongHung41(I11C) on 4/4/2013, 15:21

Phần mềm máy ảo
Virtual PC do hãng Microsoft cung cấp có những chức năng và ứng dụng:
-Mỗi PC ảo có HĐH riêng do đó có thể cài đủ loại hệ điều hành trên 1 máy, bao nhiêucũng được.
-Mỗi PC ảo ứng với 1 tập tin ảnh *.vhd.
-Mỗi PC ảo có cửa sổ riêng.
-Có thể nối mạng giữa các máy ảo do đó dễ dàng nghiên cứu và thử nghiệm mạng mà chỉcó 1 máy (không card, không dây mạng)

BuiTrongHung41(I11C)

Tổng số bài gửi : 17
Join date : 26/02/2013

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Các mục đích và nguyên tắc thiết kế hệ điều hành

Bài gửi  BuiTrongHung41(I11C) on 4/4/2013, 15:23

-Các mục đích thiết kế (Design Goals):
+ Loại phần cứng cụ thể
+ Loại hệ điều hành: Lô, Đơn hay Đa chương, Chia thời gian, Phân tán, Thời gian thực,...
+ Yêu cầu của người dùng: Tiện dụng, Dễ học, Tin cậy, An toàn, Nhanh,...
+ Yêu cầu của người lập trình HĐH: Dễ thiết kế, Dễ thi công, Dễ bảo trì, Dễ nâng cấp,...
- Nguyên tắc thiết kế (Design Principle):
+ Tách bạch Policy (Làm gì) với Mechanism (Làm như thế nào)
-Thi công (Implementation):
+ Chọn ngữ trình: Assembler hay C
+ Nên chủ yếu dùng ngôn ngữ cao cấp (ví dụ: C), sau đó những đoạn quan trọng Chuyển dần sang Assembler

BuiTrongHung41(I11C)

Tổng số bài gửi : 17
Join date : 26/02/2013

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Hệ điều hành có các nhóm chương trình hệ thống nào?

Bài gửi  LeThiKimNgan67(I11C) on 5/4/2013, 16:06

+ Quản lý tập tin/thư mục: Tạo lập, Loại bỏ, Sao chép, Đổi tên, In ấn, Liệt kê.
+ Cung cấp thông tin về trạng thái hệ thống: Ngày, Giờ, Bộ nhớ trống, Số Users.
+ Chỉnh lý tập tin: Soạn thảo văn bản (NotePad, WordPad).
+ Một số trình Biên dịch/Thông dịch: Assembler, C, C++, VB.
+ Nạp và thực hiện chương trình: Loaders, Linkage Editors.
+ Liên lạc: Gửi/Nhận thông điệp giữa các máy, Trình duyệt (Web Browser), Thư điện tử,Truyền file, Đăng nhập từ xa,...
+ Shell: (Command-Interpreter, Desktop Window).

LeThiKimNgan67(I11C)

Tổng số bài gửi : 23
Join date : 26/02/2013

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 3

Bài gửi  LETHIANHDAO48(I22B) on 6/4/2013, 11:47

Chức năng: lấy câu lệnh tiếp theo và thực thi nó.(Các câu lệnh giải quyết việc: tạo, huỷ, xem thông tin tiến trình, hệ thống. Điều khiển truy cập I/O. Quản lý, truy cập hệ thống lưu trữ thứ cấp. Quản lý, sử dụng bộ nhớ. Truy cập hệ thống file....)
Vai trò
- Là giao diện chủ yếu giữa người dùng và hệ điều hành. Ví dụ: shell, mouse-base, windows-and-menu
- Liên hệ chặt chẽ với các thành phần khác của hệ điều hành để thực thi các yêu cầu của người dùng

LETHIANHDAO48(I22B)

Tổng số bài gửi : 21
Join date : 26/03/2013

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 3

Bài gửi  LETHIANHDAO48(I22B) on 6/4/2013, 11:47

Cache: Bộ lưu đệm, là vùng nhớ tạm thời trong máy tính. Trong khoa học máy tính, một bộ nhớ cache là một thành phần để cải thiện hiệu năng lưu trữ dữ liệu bằng cách minh bạch như vậy mà yêu cầu trong tương lai cho rằng dữ liệu có thể được phục vụ nhanh hơn.
Các dữ liệu được lưu trữ trong bộ nhớ cache có thể là các giá trị đã được tính toán trước đó hoặc bản sao của các giá trị ban đầu được lưu ở nơi khác.
Nếu yêu cầu dữ liệu được chứa trong bộ nhớ cache (cache hit), yêu cầu này có thể được phục vụ bởi chỉ cần đọc bộ nhớ cache, đó là tương đối nhanh hơn. Nếu không (cache), dữ liệu phải được recomputed hoặc lấy từ địa điểm lưu trữ ban đầu của nó, mà là tương đối chậm hơn. Do đó, các yêu cầu chi tiết có thể được phục vụ từ bộ nhớ cache tốt hơn hiệu suất hệ thống tổng thể được.

Buffer là bộ đệm, bộ nhớ trung gian, một đơn vị của bộ nhớ được giao nhiệm vụ tạm thời lưu giữ các thông tin. Bộ nhớ đệm là vùng nhớ tạm trong khi chờ đến lượt vì CPU và các thiết bị khác không làm việc cùng tốc độ, HDH thì xử lý các tiến trình có chia thời gian. Do đó cần có bộ đệm để chứa tạm thời. Bộ đệm hoạt động theo cơ chế FIFO.
VD: + Khi ghi dữ liệu lên ổ cứng hoặc đọc dữ liệu từ ổ cứng cũng cần Buffer.
+ Khi hai máy tính truyền dữ liệu cũng cần Buffer.

LETHIANHDAO48(I22B)

Tổng số bài gửi : 21
Join date : 26/03/2013

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Trình bày vai trò và chức năng của hệ thông dịch lệnh(Command-Intepreter) trong hệ điều hành.

Bài gửi  NguyenThiNgocPhuoc(122A) on 8/4/2013, 01:00

* Bộ thông dịch lệnh:
- Giao diện dòng lệnh là một phương thức giao tiếp giữa User và HĐH.
- Một số HĐH coi hệ thông dịch lệnh là bộ phận của hạt nhân trong khi MS-Dos và Unix chỉ coi đây là chương trình đặc biệt.
- Giao diện do Command-Intepreter hỗ trợ được gọi là Shell.
- Một trong những "vỏ" thân thiện đầu tiên xuất hiện trong Mac OS cho máy tính Macintosh.

* Phân biệt thông dịch với biên dịch:
- Thông dịch: khi nhận được lệnh nào thì bộ thông dịch sẽ phân tích ngay lệnh đó rồi thực hiện luôn.
- Biên dịch: là chuyển đổi toàn bộ chương trình người dùng (bao gồm các lệnh cần thực hiện) sang ngôn ngữ máy rồi mới thực hiện cả chương trình.

NguyenThiNgocPhuoc(122A)

Tổng số bài gửi : 15
Join date : 21/03/2013

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Máy tính ảo

Bài gửi  PhanNgocThoai(I22B) on 8/4/2013, 16:12

Trên nền CPU loại PowerPC, Motorola, Alpha,... có thể giả lập máy tính ảo Intel chạy hệ điều hành windows và ngược lại. Khi đó các lệnh của Intel được chuyển đổi sang lệnh vật lý trước khi thực hiện.
xin Thầy cho em được hỏi giả thuyết như vậy có được xem là đúng không ah. Em xin cám ơn Thầy.

Admin
Không phải là Giả thuyết nữa, mà thực tế đã làm được như vậy !

PhanNgocThoai(I22B)

Tổng số bài gửi : 17
Join date : 22/03/2013

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Ý nghĩa và lợi ích của máy tính ảo ?

Bài gửi  NguyenMinhTuan94(I22A) on 10/4/2013, 20:32

Về nguyên lý, máy ảo là "bản sao" của phần cứng bên dưới. Một thành phần có chức năng giám sát máy ảo (VMM - Virtual Machine Monitor) chạy trực tiếp trên phần cứng "thực" cho phép tạo ra nhiều máy ảo và mỗi máy ảo làm việc với HĐH riêng. Ý tưởng xuất phát của máy ảo là nhằm tạo môi trường làm việc cho nhiều người dùng chia sẻ tài nguyên của hệ thống máy tính lớn (mainframe).

Nguyên lý làm việc của máy ảo PC: là một môi trường phần mềm bao gồm HĐH và các ứng dụng hoàn toàn chạy "bên trong" nó. Máy ảo cho phép bạn chạy một HĐH nào đó trong một HĐH khác trên cùng hệ thống PC chẳng hạn như chạy Linux trong máy ảo trên PC chạy Windows 2000. Trong máy ảo, bạn có thể làm được hầu hết mọi thứ như với PC thật. Đặc biệt, máy ảo này có thể được "đóng gói" trong 1 file và có thể chuyển từ PC này sang PC khác mà không phải bận tâm về việc tương thích phần cứng. Các máy ảo là những thực thể cách ly với hệ thống "chủ” (chứa các máy ảo) chạy trên máy thực.

* Lợi ích của máy ảo:
– Tính bảo mật cao do các máy ảo độc lập với nhau. Các tài nguyên của máy vật lý được bảo vệ hoàn toàn vì các máy ảo có Thiết bị ảo (Một ổ đĩa ảo, thậm chí toàn bộ máy ảo thực tế chỉ là một tập tin của máy vật lý). Có thể lấy từ Internet về một chương trình lạ và thử vận hành trên máy ảo mà không sợ bị ảnh hưởng (ví dụ do virus) vì nếu có sao cũng chỉ hỏng máy ảo.
– Dễ phát triển hệ thống (System Development) mà không sợ làm ảnh hưởng đến công việc toàn hệ máy đang vận hành. HĐH là chương trình phức tạp, cần liên tục thử nghiệm, tinh chỉnh, hoàn thiện và nâng cấp. Có thể tiến hành Phát triển hệ thống trên một máy ảo thay vì làm trên máy thực.

NguyenMinhTuan94(I22A)

Tổng số bài gửi : 12
Join date : 12/03/2013

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Kỹ thuật máy ảo, với ưu nhược điểm của nó. Phân biệt Vmware và VirtualPC

Bài gửi  MaiNguyenThanhLong(I22A) on 11/4/2013, 12:40

Kỹ thuật máy ảo
- Máy ảo là sự phát triển lô-gic của kiến trúc phân lớp.
- Bằng cách Điều phối CPU và kỹ thuật Bộ nhớ ảo, có thể tạo cho người dùng ảo giác rằng người đó đang dùng bộ xử lý và bộ nhớ của riêng mình.
- Nói cách khác: Máy tính ảo của người dùng được giả lập trên nền máy tính vật lý.
- Ví dụ: Trên nền CPU loại PowerPC, Motorola, Alpha,... có thể giả lập máy tính ảo Intel chạy HĐH Windows và ngược lại. Khi đó, các lệnh của Intel được chuyển đổi sang lệnh vật lý trước khi thực hiện.
- HĐH máy ảo thương mại đầu tiên: VM/370 của IBM.

Ưu điểm:
- Tính bảo mật cao do các máy ảo độc lập với nhau. Các tài nguyên của máy vật lý được bảo vệ hoàn toàn vì các máy ảo có Thiết bị ảo (Một ổ đĩa ảo, thậm chí toàn bộ máy ảo thực tế chỉ là một tập tin của máy vật lý). Có thể lấy từ Internet về một chương trình lạ và thử vận hành trên máy ảo mà không sợ bị ảnh hưởng (ví dụ do virus) vì nếu có sao cũng chỉ hỏng máy ảo.
- Dễ phát triển hệ thống (System Development) mà không sợ làm ảnh hưởng đến công việc toàn hệ máy đang vận hành. HĐH là chương trình phức tạp, cần liên tục thử nghiệm, tinh chỉnh, hoàn thiện và nâng cấp. Có thể tiến hành Phát triển hệ thống trên một máy ảo thay vì làm trên máy thực.

Nhược điểm:
- Vấn đề lưu trữ vật lý. Thông thường, mỗi máy ảo chỉ dùng một tập tin để lưu tất cả những gì diễn ra trong máy ảo. Do đó nếu bị mất tập tin này xem như mất tất cả.
- Nếu máy tính có cấu hình phần cứng thấp nhưng cài quá nhiều chương trình máy ảo, máy sẽ chậm và ảnh hưởng đến các chương trình khác.
- Do tập trung vào một máy tính, nếu máy bị hư thì toàn bộ các máy tính ảo đã thiết lập trên nó cũng bị ảnh hưởng theo.
- Ở góc dộ bảo mật, nếu hacker nắm quyền điều khiển máy tính chứa các máy ảo thì hacker có thể kiểm soát được tất cả các máy ảo trong nó.

Phân biệt Vmware và VirtualPC
Giống nhau:
- Giúp giả lập máy tính ảo trên một máy tính thật. Khi cài đặt chúng lên, ta có thể tạo nên các máy ảo chia sẻ CPU, RAM, Card mạng với máy tính thật. Điều này cho phép xây dựng nên một hệ thống với một vài máy tính được nối với nhau theo một mô hình nhất định, người sử dụng có thể tạo nên hệ thống của riêng mình, cấu hình theo yêu cầu của bài học.

Khác nhau:
- Về mạng nội bộ, VMW cung cấp tới 4 phương thức kết nối: 'Bridged Connection', 'Network Address Translation', 'Host Only' và 'Custom'. 'Bridged Connection' cho phép máy ảo trực tiếp kết nối với mạng LAN hoặc Internet. 'Network Address Translation' cho phép máy ảo kết nối mạng bằng cách dùng chung địa chỉ IP của máy chủ. 'Host Only' tạo một mạng riêng mà trong đó máy chủ được coi như một máy tính tách rời. Với 'Custom', bạn có thể tạo một mạng ảo theo những yêu cầu cụ thể. Chúng tôi sử dụng phương thức 'Network Address Translation' và nhận thấy việc kết nối mạng không gặp bất kỳ khó khăn gì trong cả 2 môi trường Windows và Linux.

- VPC đòi hỏi 2 cửa sổ chương trình: một cho việc quản lí các máy ảo, một cho từng máy ảo. Ngược lại, VMW lại gộp cả 2 cửa sổ trên vào làm một. Tuy nhiên, VPC cung cấp menu của cửa sổ chương trình đơn giản hơn của VMW. Cả 2 phần mềm đều cho phép thực hiện tất cả các thao tác cấu hình chi tiết thông qua menu chính, song bạn cũng có thể trực tiếp thực hiện một số thiết đặt thông qua các biểu tượng ở thanh trạng thái phía dưới.

MaiNguyenThanhLong(I22A)

Tổng số bài gửi : 16
Join date : 13/03/2013

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Bộ thông dịch lệnh

Bài gửi  NguyenMinhTuan94(I22A) on 11/4/2013, 22:25

Compiler(Biên dịch): Code sau khi đc biên dịch sẽ tạo ra 1 file thường là .exe, và file .exe này có thể đem sử dụng lại không cần biên dịch nữa, nên biên dịch tốn nhiều thời gian hơn.
Interpreter(Thông dịch) : Nó dịch từng lệnh rồi chạy từng lệnh, lần sau muốn chạy lại thì phải interpreter lại. Nên thông dịch tốn ít thời gian nhưng phải chạy lại mỗi khi dịch code.

vd:
Compiler giống như một dịch thuật gia, giã sử ông ta dịch một cuốn sách từ English sang Vietnam, sau này một người không biết English vẫn có thể hiểu nội dung quyển sách bằng cách đọc quyển tiếng Việt do ông ta dịch.
Interpreter giống như là thông dịch viên, có một cuộc hôi thảo người báo cáo là người Anh, trong khi hầu hết người dự báo cáo là người việt không biết tiếng Anh thì sẽ cần đến một anh thông dịch viên, lần sau cũng có cuộc hội thảo tương tự như vậy, cùng chủ đề đó nhưng cũng cần đến anh thông dịch viên.

NguyenMinhTuan94(I22A)

Tổng số bài gửi : 12
Join date : 12/03/2013

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Mô hình liên lạc giữa các tiến trình

Bài gửi  MaiXuanSon (I22B) on 12/4/2013, 13:46

Trong HDH,các tiến trình liên lạc với nhau thông qua 2 mô hình.
1.Message-passing(truyền thông điệp):
Khi bạn gửi thư từ địa chỉ A sang địa chỉ B,thì bạn phải gửi qua bưu điện ( bưu điện lúc này là địa chỉ trung gian), rồi sau đó bưu điện sẽ dò tìm địa chỉ B mà bạn ghi trên phong bì và gửi đến địa chỉ theo yêu cầu của bạn.
Phân tích cho mô hình liên lạc giữa các tiến trình: các tiến trình cũng hoạt động tương tự vậy,process 1 (P1) muốn truyền thông điệp cho process 2 (P2) thì P1 sẽ gửi đến một địa chỉ trung gian,cụ thể ở đây kernel của HDH.và từ đây P2 sẽ liên hệ với kernel để lấy thông điệp mà P1 gửi.
2.Shared memory(bộ nhớ dùng chung) :
Một cây cầu bắt ngang 2 thành phố,thành phố A và thành phố B,cây cầu đóng vai trò trung gian.
Bộ nhớ dùng chung cũng nôm na là vậy,P1 liên lạc với P2,thông qua một vùng nhớ dùng chung,nhưng không lấy thông tin liên lạc từ kernel.
Như vậy 2 mô hình này đều có 2 giai đoạn :
giai đoạn 1:gửi thông tin liên lạc
giai đoạn 2 lấy thông tin liên lac từ một khu vực nào đó
và có thể sẽ trải qua nhiều lần liên lạc với nhau,vì HDH không có 1 2 process mà rất nhiều,nên trong qua trình liên lạc sẽ tốn thêm thời gian.nhưng máy tính xử lý rất nhanh nên chúng ta hầu như không thấy được.

MaiXuanSon (I22B)

Tổng số bài gửi : 49
Join date : 11/03/2013
Age : 31

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Ưu và nhược điểm của Window 32 bit và 64 bit

Bài gửi  MaiXuanSon (I22B) on 12/4/2013, 13:56

1. Ưu điểm
Nhận và sử dụng nhiều hơn 4GB RAM
+ Như đã phân tích ở trên, hệ điều hành 32-bit nói chung và Windows
nói riêng chỉ có thể hỗ trợ được tối đa 4GB RAM (trên thực tế bạn chỉ có
thể sử dụng hơn 3GB một chút), còn với hệ điều hành 64-bit, con số này
lớn hơn rất nhiều. Hiện tại thì phiên bản Windows 7 Home đang giới hạn ở
16GB RAM, còn phiên bản Profesional và Ultimate thì nhiều hơn, hỗ trợ
tới 192GB.

Năng suất làm việc cao hơn
+ Không chỉ cho phép hệ điều hành sử dụng nhiều bộ nhớ hơn, mà bộ nhớ của
máy còn được sử dụng hiệu quả hơn nhờ các thanh ghi có độ rộng tới
64-bit và tình trạng ngốn bộ nhớ cũng ít khi xảy ra nhờ cơ chế phân phối
bộ nhớ của Windows 64-bit. Việc sử dụng lượng bộ nhớ RAM trên hệ thống
64-bit sẽ hiệu quả hơn so với 32-bit rất nhiều.
Tăng khả năng phân phối bộ nhớ cho từng ứng dụng
+ Windows 32-bit bị giới hạn lượng RAM cấp phát cho 1 ứng dụng (tối đa là
2GB). Những ứng dụng chính sửa ảnh, video hay ứng dụng tạo máy ảo đều
ngốn rất nhiều RAM nên việc thiếu bộ nhớ khi sử dụng những chương trình
này là thường xuyên gặp phải. Windows 64-bit không gặp phải hạn chế này
vì lượng RAM tối đa trên lý thuyết có thể cấp phát cho 1 ứng dụng đơn là
8 TB (8000 GB), quá thừa thãi ở thời điểm hiện tại. Các ứng dụng được
tối ưu hóa cho 64-bit như Photoshop hoạt động rất nhanh và tận dụng được
hết khả năng của CPU.
2. Nhược điểm
+ Nhiều thiết bị phần cứng và phần mềm cũ không tương thích với hệ điều hành 64-bit
Đây là hạn chế rõ nhất của các hệ điều hành 64-bit, với những thiết bị
được sản xuất trong vòng vài năm trở lại đây thì vấn đề này không lớn
lắm vì bạn có thể cập nhật driver cho hệ điều hành 64-bit nhưng nếu nhà
sản xuất không hỗ trợ cho thiết bị đó nữa thì bạn chẳng còn cách nào
khác ngoài việc đi mua mới.
+ Đối với phần mềm cũng tương tự, 1 số chương trình được viết cho hệ điều
hành 32-bit không thể chạy trên nền 64-bit nếu không có các bản patch
từ nhà phát triển. Bạn có thể giả lập hệ điều hành 32-bit để chạy chúng
nhưng việc này xem ra không mấy hiệu quả. Đối với các Game cũ thì không
chạy được trên nền 64-bit cũng là đương nhiên và hiếm có nhà sản xuất
nào tung ra bản patch 64-bit cho 1 game đã ra đời cả chục năm(như
Halo:Combat Evolved chẳng hạn).
+ Chưa kể đến việc 1 số chương trình có phiên bản dành cho 64-bit tuy
nhiên những phần mở rộng cho chương trình đó thì lại không, ví dụ điển
hình trình duyệt Firefox có rất nhiều plugin phong phú nhưng khi chuyển
lên hệ điều hành 64-bit thì những plugin này lại không được hỗ trợ hoặc
chưa kịp phát triển.
+ Tuy nhiên những nhược điểm trên có lẽ chỉ thể hiện rõ trên Windows XP 64
bit và Vista 64 bit còn phiên bản 64 bit của Windows 7 đã khắc phục
phần lớn vấn đề tương thích nên bạn có thể hoàn toàn yên tâm khi cài
đặt.

MaiXuanSon (I22B)

Tổng số bài gửi : 49
Join date : 11/03/2013
Age : 31

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 3

Bài gửi  MaiXuanSon (I22B) on 12/4/2013, 14:10

TranVuSang (I22B) đã viết:Khi sử dụng phần mêm có bản quyền thì người dùng sẽ luôn được bảo vệ an toàn tối ưu bởi phần mềm có bản quyền sẽ luôn giúp người dùng “miễn nhiễm” với hiểm họa từ virus, mã độc…sẽ không gặp phải những sự cố khiến họ phải mất thời gian cài đặt lại, thậm chí còn bị mất tài liệu do những trường hợp này gây ra.
Phần mềm bản quyền khác biệt hẳn so với phần mềm copy ở việc thường xuyên được cập nhật những tính năng mới nhất từ hãng, do vậy có thể giúp máy tính của người dùng đáp ứng tốt hơn với các phát sinh mới của môi trường ứng dụng, đồng thời có thể sử dụng máy tính tối ưu hơn.
Sử dụng phần mềm có bản quyền cũng ngăn chặn được virus.Các loại virus, malware, mã độc được phát tán ngày càng rộng rãi và tinh vi hơn. Vậy nên khi liên tục cập nhật những chương trình chống virus mới nhất, hoặc nâng cấp hệ thống bảo mật của máy tính, người dùng có thể yên tâm hơn về vấn đề bảo mật thông tin và dữ liệu.
Tuy nhiên theo mình nghĩ đó chỉ là những lợi ích khi một doanh nghiệp đầu tư với qui mô lớn và có nhiều đối thủ cạnh tranh hoặc sợ bị mất dữ liệu thì họ mới phải mua bản quyền, còn với học sinh - sinh viên chúng ta thì việc sử dụng một phần mềm bản quyền hay không bản quyền thì có gì khác nhau đâu, chẳng qua phần mềm bản quyền thì nghe có vẻ oai 1 tí và được cái là có thể cập nhật thường xuyên còn những cái cơ bản thì bản quyền hay không bản quyền cũng giống nhau cả mà.Trong khi điều kiện thì có bạn có thể mua được nếu nhà bạn đó khá dã còn có bạn thì không mua được bản quyền nhưng họ vẫn học tốt đấy thôi.
Theo ý kiến của mình là vậy, mong các bạn đóng góp ý kiến thêm nha.

Bạn nói như vậy mình nhất trí việc sử dụng phần mềm có bản quyền.
Ở các nước phát triển như Mỹ khi mua 1 bộ máy tính thì phải mua thêm hệ điều hành có bản quyền thậm chí HĐH này còn hơn tiền của 1 máy tính ngoài ra sản phẩm này còn đuợc quy định thời gian sử dụng.
Ở Việt Nam mình thì ngược lại: là 1 nước đang phát triển khi bỏ tiền ra mua 1 sản phẩm đã khó rồi thì có khả năng mua bản quyền không?
Các bạn nghỉ như thế nào?

MaiXuanSon (I22B)

Tổng số bài gửi : 49
Join date : 11/03/2013
Age : 31

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Những bộ phận cấu thành chính của hệ điều hành

Bài gửi  MaiXuanSon (I22B) on 12/4/2013, 14:13

Quản lý tiến trình ( Process Management ):
°Tiến trình (Process) là chuơng trình trong thời gian thực hiện (đặt dưới sự quản lý của HĐH).
°Phân biệt Tiến trình hệ thống (của HĐH) với Tiến trình người dùng.
°Bản thân chương trình không là tiến trình vì là thực thể Thụ động (Passive), trong khi tiến trình là thực thể Hoạt động (Active) với nhiều thông tin về trạng thái trong đó có Bộ đếm chương trình (Program Counter) cho biết vị trí lệnh hiện hành.
°Nhiều tiến trình có thể liên quan đến 1 chương trình và là các thực thể khác nhau khi vận hành.
°Một tiến trình có thể sinh ra nhiều tiến trình con khác khi thực hiện.
°Tiến trình cần các Tài nguyên (CPU, Memory, Tập tin, Thiết bị I/O,...) để hoàn thành công việc.
°Tài nguyên (Resource) cấp cho tiến trình ngay từ đầu (khi tiến trình được tạo lập) hoặc trong thời gian vận hành và được thu hồi hết khi tiến trình hoàn tất.
°Những chức năng quản lý tiến trình của HĐH:
–Tạo lập và Loại bỏ tiến trình.
–Tạm ngừng và Tiếp tục công việc của tiến trình.
–Đồng bộ hoá tiến trình (Synchronization).
–Liên lạc giữa các tiến trình (Trao đổi thông tin)
–Xử lý tình huống kẹt tiến trình (Deadlocks)

MaiXuanSon (I22B)

Tổng số bài gửi : 49
Join date : 11/03/2013
Age : 31

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Câu 1: Trình bày những bộ phận cấu thành chính của HĐH ?

Bài gửi  NguyenPhuongNhu(I22B) on 12/4/2013, 17:41

-Có bộ phận quản lý tiến trình(Process).Quản lý tiến trình là bắt tiến trình chuyển sang trạng thái ngủ và ngược lại.
-Chức năng thứ 2 của HĐH là Quản lý bộ nhớ chính.
Quản lý cấp phát và thu hồi các trạng thái đó của máy tính.
Tổ chức bộ nhớ dưới dạng phân mảnh, các cung, các rảnh,mỗi rảnh chia thành nhiều cung.
- Chức năng thứ 3 của HĐH là quản lý tập tin.
- Chức năng thứ 4 của HĐH là quản lý mạng( net working).

NguyenPhuongNhu(I22B)

Tổng số bài gửi : 36
Join date : 25/03/2013
Age : 33

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Câu 2: Phân tích vai trò và chức năng của bộ thông dịch lệnh, qua đó phân biệt thông dịch khác biên dịch ?

Bài gửi  NguyenPhuongNhu(I22B) on 12/4/2013, 17:41

Thông dịch: nói câu nào dịch câu đó.Yếu điểm là có thể không chính xác, chất lượng bản dịch có thể kém.
Trong máy tính, ngôn ngữ thong dịch: HTML, J Script, ASP, PHP, VBA cua access.
Biên dịch: VD A nguyên thủ quốc qia nói hết xong roi người B viet thành biên bản dịch toàn bộ rồi đưa cho a nguyên thủ quốc gia kia đọc để hiểu. Chính xác nhưng lâu, mất thời gian.
Trong máy tính, ngôn ngữ biên dịch: Pascal, C, ASP, PHP.
Trình thông dịch: đụng lệnh nào dịch lệnh đó liền.
Giao diện dòng lệnh:Shell.

NguyenPhuongNhu(I22B)

Tổng số bài gửi : 36
Join date : 25/03/2013
Age : 33

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Câu 3: Trình bày hai mô hình liên lạc giữa các tiến trình ?

Bài gửi  NguyenPhuongNhu(I22B) on 12/4/2013, 17:43

2 mô hình: liên lạc truyền thông:
+Phân vùng riêng: A gửi thư m cho B. bưu điện đóng vai tor2 là HĐH.
+ Dùng chung bộ nhớ.: bộ nhớ được chia sẽ vùng nhớ chung trong ramdùng làm vùng nhớ chung. VD: A, B gửi gì cho nhau thì đưa vào vùng nhớ chung. A ghi vào vung2n hớ chung, B muốn lấy thì đọc từ vùng nhớ chung đó.

Chú ý: Khi dùng chung bộ nhớ, người lập trình phải đối mặt với vấn đề “ Đồng bộ hóa sử dụng” vùng nhớ chung đó.
....
Câu này cần bổ sung thêm ..!

NguyenPhuongNhu(I22B)

Tổng số bài gửi : 36
Join date : 25/03/2013
Age : 33

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

: Ích lợi của máy ảo :

Bài gửi  NguyenPhuongNhu(I22B) on 12/4/2013, 17:43

- Bảo mật cao hơn
- Phát triển hệ thống.
VD: Máy tính vật lý dùng win, Microsoft, nâng cấp HĐH đang sử dụng trên máy chủ của máy tính để khắc phục lỗi. Khi phát triển HĐH vật lý đó hti2 ảnh hưởng toàn Công ty. Ta nên dùng máy ảo, phát triển trên máy ảo( sửa giao diện, nâng cấp, sửa chữa,..)tốt rồi , mất vài phút chuyển sang máy vật lý. => tác động vài phút lên máy đang dùng.

NguyenPhuongNhu(I22B)

Tổng số bài gửi : 36
Join date : 25/03/2013
Age : 33

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Phân biệt Cache Và Buffer:

Bài gửi  NguyenTrongTinh(I22A) on 12/4/2013, 22:45

Cache là tên gọi của bộ nhớ đệm, dạng bộ nhớ trung gian như RAM - trung gian giữa nơi xử lí (CPU) và nơi chứa dữ liệu (HDD), nơi lưu trữ các dữ liệu nằm chờ các ứng dụng hay phần cứng xử lý. Mục đích của nó là để tăng tốc độ xử lý (có sẵn xài liền không cần tốn thời gian đi lùng sục tìm kéo về).
- Cache là một cơ chế lưu trữ tốc độ cao đặc biệt. Bộ nhớ Cache là bộ nhớ nằm bên trong của CPU, nó có tốc độ truy cập dữ liệu theo kịp tốc độ xủa lý của CPU, điều này khiến cho CPU trong lúc xử lý không phải chờ dữ liệu từ RAM vì dữ liệu từ RAM phải đi qua Bus của hệ thống nên mất nhiều thời gian. Nó có thể là một vùng lưu trữ của bộ nhớ chính hay một thiết bị lưu trữ tốc độ cao độc lập.Có hai dạng lưu trữ cache được dùng phổ biến trong máy tính cá nhân là memory caching (bộ nhớ cache hay bộ nhớ truy xuất nhanh) và disk caching (bộ nhớ đệm đĩa).
Ví dụ: Hàng đã có trong kho thì không cần phải mất thêm thời gian ra tiệm mua mới mà chỉ cần vào kho lấy ra thôi.

Buffer là bộ đệm, bộ nhớ trung gian, một đơn vị của bộ nhớ được giao nhiệm vụ tạm thời lưu giữ các thông tin.
Bộ đệm (Buffer) hay bộ nhớ đệm là vùng nhớ tạm trong khi chờ đến lượt vì CPU và các thiết bị khác không làm việc cùng tốc độ, HDH thì xử lý các tiến trình có chia thời gian. Do đó cần có bộ đệm để chứa tạm thời. Bộ đệm hoạt động theo cơ chế FIFO.
Ví dụ:
+ Khi ghi dữ liệu lên ổ cứng hoặc đọc dữ liệu từ ổ cứng cũng cần Buffer.
+ Khi hai máy tính truyền dữ liệu cũng cần Buffer…

NguyenTrongTinh(I22A)

Tổng số bài gửi : 31
Join date : 11/03/2013
Age : 25
Đến từ : BR-VT

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Những bộ phận cấu thành của hệ điều hành.

Bài gửi  NguyenTrongTinh(I22A) on 12/4/2013, 22:46

• Quản lý Process (Process Management)
• Quản lý bộ nhớ chính (Memory Management)
• Quản lý Hệ Thống File (File Management)
• Quản lý hệ thống I/O (I/O System Management)
• Quản lý bộ nhớ phụ (Secondary Storage Management)
• Hệ thống bảo vệ (Protection System)
• Command-Interpreter System

NguyenTrongTinh(I22A)

Tổng số bài gửi : 31
Join date : 11/03/2013
Age : 25
Đến từ : BR-VT

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Câu hỏi và lời giải sưu tầm - mang tính tham khảo thôi

Bài gửi  levanphap(I22A) on 13/4/2013, 01:00

CÂU 3.1 : Trình bày những bộ phận chính cấu thành nên HĐH (khái niệm tiến trình, quản lý tiến trình, quản lý bộ nhớ chính, quản lý tập tin, quản lý nhập xuất I/O) ?

Tiến trình: chương trình thực thi tạo ra tiến trình. Tiến trình bao gồm :
Mã lệnh
Con trỏ lệnhs
Stack
Các thanh ghi
Data……

1.Quản lý tiến trình
Tạo lập, huỷ bỏ một tiến trình
Tạm dừng, tái kích hoạt một tiến trình
Cung cấp các cơ chế trao đổi thông tin giữa các tiến trình
Cung cấp cơ chế đồng bộ hoá các tiến trình
2. Quản lý bộ nhớ
Cấp phát và thu hồi vùng nhớ cho tiến trình khi cần thiết
Ghi nhận tình trạng bộ nhớ chính: vùng đã cấp phát, vùng còn có thể sử dụng...
Quyết định tiến trình nào được nạp vào bộ nhớ
chính khi có một vùng nhớ trống.
3. Quản lý thiết bị nhập xuất:
Gửi các lệnh điều khiển đến các thiết bị
Tiếp nhận các ngắt
Xử lý lỗi
4. Quản lý tập tin
Tạo lập, huỷ bỏ một tập tin.
Tạo lập và huỷ bỏ một thư mục.
Cung cấp các thao tác xử lý tập tin và thư mục.
Tạo lập quan hệ tương ứng giữa tập tin và bộnhớ phụ chứa nó.
5. Hệ thống bảo vệ
Xây dựng cơ chế bảo vệ thích hợp trong trường hợp nhiều người cùng sử dụng đồng thời các tiến trình.
6. Hệ thông dịch lệnh (Shell)
Đóng vai trò giao diện giữa NSD và HĐH
Các lệnh được chuyển đến HĐH dưới dạng chỉ thị điều khiển.
Shell nhận lệnh và thông dịch lệnh để HĐH có xử lý tương ứng
7. Quản lý mạng
Một hệ thống phân bố nhiều bộ xử lý với các bộ nhớ độc lập.
Các tiến trình trong hệ thống có thể kết nối với nhau qua mạng truyền thông.
Việc truy xuất đến tài nguyên mạng thông qua các trình điều khiển giao tiếp mạng.

Ý KIẾN KHÁC

1/ Quản lý tiến trình(Process Management): Tiến trình là 1 chương trình đang hoạt động. Một tiến trình cần tài nguyên nhất định, bao gồm thời gian Cpu, bộ nhớ, tập tin và thiết bị nhập / xuất để hoàn thành tác vụ của nó. Ngoài ra, khi tiến trình hoạt động trong hệ thống có thể phát sinh các tiến trình con. Như vậy, nhiệm vụ của hệ điều hành trong quản lý tiến trình là:
- Tạo lập và hủy bỏ các tiến trình
- Tạm dừng và khôi phục lại các tiến trình
- Cung cấp cơ chế để đồng bộ hóa các tiến trình
- Cung cấp các cơ chế để giao tiếp giữa các tiến trình

2/ Quản lý bộ nhớ chính(Main-Memory Management): Bộ nhớ chính là 1 mảng kiểu byte hay kiểu word có kích thước lớn. Mỗi phần tử có địa chỉ riêng. Đó là 1 kho chứa dữ liệu có khả năng truy xuất nhanh được chia sẻ bởi CPU và các thiết bị nhập xuất. Bộ nhớ chính là 1 thiết bị lưu trữ không ổn định.Nội dung của nó bị mất khi hệ thống bị lỗi.Trong quản lý bộ nhớ hệ điều hành có các nhiệm vụ sau:
- Lưu giữ thông tin về các vị trí trong bộ nhớ đã được sử dụng và ai sử dụng.
- Quyết định tiến trình nào được nạp vào bộ nhớ chính, khi bộ nhớ đã có thể dùng được.
- Cấp phát và thu hồi bộ nhớ khi cần thiết.

3/ Quản lý hệ thống nhập/ xuất(I/O Management): Một trong những mục tiêu của hệ điều hành là che dấu những đặc thù của các thiết bị phần cứng đối với người sử dụng thay vào đó là một lớp thân thiện hơn, người sử dụng dể thao tác hơn. Một hệ thống nhập/xuất bao gồm :
- Một hệ thống vùng nhớ đệm
- Giao diện trình điều khiển thiết bị chung.
- Điền khiển các thiết bị phần cứng xác định.

4/ Quản lý tập tin(File Management): Một tập tin là một tập hợp những thông tin lien quan với nhau do người tạo ra nó xác định. Thông thường một tập tin đại diện cho một chương trình và dữ liệu. Dữ liệu của tập tin có thể là số, là ký tự, hay ký số. Tập tin thường có dạng tự do, như tập tin văn bản, nhị phân...(là tập tin chứa dãy các bit). Vai trò của hệ điều hành trong việc quản lý tập tin :
- Tạo và xoá một tập tin.
- Tạo và xoá một thư mục.
- Hỗ trợ các hàm nguyên thủy để thao tác trên tập tin và thư mục.
- Ánh xạ tập tin trên hệ thống lưu trữ phụ.
- Sao lưu dự phòng tập tin trên các thiết bị lưu trữ ổn định.

5/ Hệ thống bảo vệ(Protection System): Hệ thống bảo vệ là một cơ chế kiểm soát quá trình truy xuất của chương trình, tiến trình, hoặc người sử dụng với tài nguyên của hệ thống và của người dùng. Cơ chế này cũng cung cấp cách thức để mô tả lại mức độ kiểm soát:
- Phân biệt giữa người sử dụng được phép hay không được phép truy cập.
- Xác định các điều khiển được áp dụng.
- Cung cấp phương tiện để thực thi.

6/ Mạng(Distributed System): Hệ phân tán là tập hợp các bộ xử lý, chúng không chia sẻ bộ nhớ, các thiết bị ngoại vi hay đồng hồ.Thay vào đó mỗi bộ vi xử lý có bộ nhớ, đồng hồ riêng.Các bộ vi xử lý trong hệ thống được kết nối với nhau thông qua mạng truyền thông.Hệ thống phân tán cung cấp cho người dùng truy xuất tới các tài nguyên khác nhau mà hệ thống duy trì. Truy xuất tới các tài nguyên chia sẻ cho phép tăng tốc độ tính toán,tăng khả năng sẵn dùng của dữ liệu, tăng mức độ tin cậy.

7/ Thành phần thông dịch lệnh(Command Interpreter): Nhiều lệnh được cung cấp tới hệ điều hành bởi các lệnh điều khiển để giải quyết việc tạo và quẩn lý tiến trình,quẩn lý nhập xuất, quản lý việc lưu trữ phụ, quản lý bộ nhớ chính, truy xuất hệ thống tập tin, bảo vệ và mạng. Trong các hệ thống chia xẻ thời gian một chương trình có thể đọc và thông dịch các lệnh điều khiển được thực hiện một cách tự động. Chương trình này thường được gọi là bộ thông dịch điều khiển card, cơ chế dòng lệnh hoặc Shell. Chức năng của nó rất đơn giản đó là lấy lệnh kế tiếp và thi hành.

CÂU 3.2 : Phân tích chức năng và vai trò của hệ thống dịch lệnh (Command- Interperter) qua đó phân biệt thông dịch và biên dịch ?

Bộ thông dịch lệnh (Command-Interpreter) :
- Command-Interpreter là 1 phương thức giao tiếp giữa User và HĐH.
- Một số HĐH xem Command-Interpreter là bộ phận của hạt nhân (Kernel) trong khi MS-DOS và UNIX coi là chương trình đặc biệt.
- Giao diện do Command-Interpreter hỗ trợ được gọi là Shell.
- Một trong những "Vỏ" thân thiện đầu tiên xuất hiện trong hệ điều hành Mac OS cho máy tính Macintosh.
*Thông dịch (Interpretation): là lần lượt thi hành từng lệnh 1 thông qua chương trình gọi là trình thông dịch(Interpreter). Thường được viết bằng ngôn ngữ cấp cao và được lưu với file mở rộng *.bat(batch). Trong thông dịch thì mã nguồn không được dịch trước thành ngôn ngữ máy mà mỗi lần cần chạy chương trình thì mã nguồn mới được dịch để thực hiện từng lệnh 1 (line by line .Tất cả các ngôn ngữ không biên dịch ra mã máy điều phải sử dụng trình thông dịch , các ngôn ngữ theo trình thông dịch thường gọi là script(kịch bản).

*Biên dịch (Compilation): là dịch toàn bộ chương trình thông qua 1 chương trình gọi là trình biên dịch(Compiler) tạo ra file thưc thi *.exe (sẽ chạy 1 lần mà không cần thông dịch lại). Chương trình viết được biên dịch ra thành ngôn ngữ máy trên một hệ điều hành xác định và chỉ chạy trên hệ điều hành đó(C++ -> chỉ chạy trên win, C++ không chạy trên Unix/Linux . . .

VD: Khi ta dịch 1 cuốn sách từ tiếng Anh sang tiếng Việt hoặc ngược lại. VD: Khi ngoại giao giữa cơ quan nhà nước với người nước ngoài ta cần một thông dịch viên để dịch lại nội dung của tiếng nước ngoài sang tiếng Việt ngay tại thời điểm đó.

CÂU 3.3 : Trình bày hai mô hình liên lạc giữa các tiến trình ( yêu cầu vẽ đc 2 hình) ?

a. Liên lạc giữa các tiến trình (Interprocess Communication):
- Mỗi máy tính trong mạng có Host Name và (hoặc) IP Address. Các tên này được HĐH chuyển đổi thành một số nguyên gọi là HostID.
- Mỗi tiến trình có ProcessName và ProcessID.
- Cặp số (HostID, ProcessID) xác định duy nhất tiến trình trong mạng và được dùng để Mở/Đóng kết nối với tiến trình đó.
- Có các lời gọi hệ thống kiểu Open, Close, Read, Write, Wait để thao tác với tiến trình.

b. Truyền thông điệp:
- Cho phép các tiến trình gởi các khuôn dữ kiệu có khuôn dạng tới bất kì tiến trình nào
- Chức năng của hệ thống truyền thông điệp là cho phép các quá trình giao tiếp với các quá trình khác mà không cần sắp xếp lại dữ liệu chia sẻ.
- Đơn vị truyền thông tin trong cơ chế truyền thông điệp là một thông điệp, do đó các tiến trình có thể trao đổi dữ liệu ở dạng cấu cấu trúc.

c. Dùng bộ nhớ chung:
- Với phương thức này, các tiến trình chia sẻ một vùng nhớ vật lý thông qua trung gian không gian địa chỉ của chung. Một vùng nhớ chia sẻ tồn tại độc lập với các tiến trình, và khi một tiến trình muốn truy xuất đến vùng nhớ này, tiến trình phải kết gắn vùng nhớ chung đó vào không gian địa chỉ riêng của từng tiến trình, và thao tác trên đó như một vùng nhớ riêng của mình.
- Đây là phương pháp nhanh nhất để trao đổi dữ liệu giữa các tiến trình. Nhưng phương thức này cũng làm phát sinh các khó khăn trong việc bảo đảm sự toàn vẹn dữ liệu (coherence)
- Một khuyết điểm của phương pháp liên lạc này là không thể áp dụng hiệu quả trong các hệ phân tán , để trao đổi thông tin giữa các máy tính khác nhau.
VD: Bảng là vùng nhớ chia sẽ, giáo viên là tiến trình A, học sinh trong lớp là tiến trình B1,2..N. Khi thầy A viết bài có nội dung M lên bảng thì các học sinh B1,2..N sẽ chép nội dung bài học vào vở.
Giả sử khi thầy giáo hết bảng, nhưng vẫn còn chưa hết nội dung bài học. Thầy giáo phải xóa bảng để viết tiếp. Trong trường học sinh chưa chép bài xong và thầy giáo xóa bảng => HS sẽ chép không đủ nội dụng => tình trạng thất thoát thông tin.
Cho nên thầy giáo cần phải chờ HS chép hết bài mới xóa bảng => Lúc nào cũng phải đồng bộ hóa các tiến trình.

CÂU 3.4 : Trình bày nguyên lý và những lợi ích của máy tính ảo ?

VM(Virtual Machine) là một môi trường phần mềm cho phép một hoặc hơn một HĐH và các ứng dụng của chúng hoạt động song song trên chỉ một máy tính duy nhất. Điếm thú vị là chúng ta có thể chuyển đổi qua lại giữa các HĐH đang chạy chỉ bằng một hoặc hai thao tác mà không phải khởi động lại PC. Đối với các HĐH, không có gì khác biệt giữa VM và PC thật (real computer). Nói một các ngắn gọn, VM chính là một bản sao của PC thật. Gần như, điều gì bạn có thể làm được trên máy thật thì bạn cũng có thể làm được trên VM.
Ý KIẾN KHÁC :
- Là sự phát triển lô-gic của kiến trúc phân lớp.
- Bằng cách điều phối CPU và kỹ thuật bộ nhớ ảo, có thể tạo cho người dùng ảo giác rằng người đó đang dùng bộ xử lý, bộ nhớ và các thiết bị của riêng mình.
- Nói cách khác: Máy tính ảo của người dùng được giả lập trên nền máy tính vật lý.

Ích lợi của máy tính ảo:
- Tính bảo mật cao do các máy ảo độc lập với nhau. Các tài nguyên của máy vật lý được bảo vệ hoàn toàn vì các máy tính ảo có thiết bị ảo (ví dụ, ổ đĩa ảo). Có thể lấy từ Internet về một chương trình lạ và thử chạy trên máy ảo mà không sợ bị ảnh hưởng (VD như virut) vì nếu có sao thì cũng chỉ hỏng máy ảo.
- Dễ phát triển hệ thống (System Development) mà không sợ làm ảnh hưởng đến công việc toàn hệ máy đang vận hành. HĐH là chương trình phức tạp,cần liên tục thử nghiệm, tinh chỉnh, hoàn thiện và nâng cấp. Có thể tiến hành phát triển hệ thống trên một máy ảo thay vì làm trên máy thực. Thành công rồi mới chuyển nhanh sang máy thực.
VD: một số phần mềm như VMWare, Virtual PC, VirtualBox .
Ví dụ:
Khi ta download một chương trình nào trên Internet, nhưng ta nghi ngờ về mức độ an toàn của chương trình đó. Nên trước tiên ta cài đặt và thử nghiệm trên máy ảo một thời gian, nếu ổn định ta sẽ cài nó trên máy tính vật lý.
Khi ta muốn sử dụng 1 chương trình mà có thu phí, sau một thời gian (thường là 1 tháng), chương trình sẽ không sử dụng được nữa nếu không đăng ký bản quyền. Nếu cài chương trình này trên máy tính vật lý, ta sẽ không thể cài lại và muốn cài lại thì sẽ phải cài lại cả windows (rất mất thời gian). Để giải quyết việc này, ta sẽ cài nó trên máy ảo, khi hết hạn thì ta chỉ cần bung windows ảo lần nữa (nhanh hơn cài trên máy tính vật lý) rồi sau đó cài đặt chương trình và sử dụng tiếp.
* Nhược điểm của máy tính ảo:
Vấn đề bảo mật và lưu trữ vật lý. Thông thường, mỗi máy ảo chỉ dùng một tập tin để lưu tất cả những gì diễn ra trong máy ảo. Do đó nếu bị mất tập tin này xem như mất tất cả.
Nếu máy tính có cấu hình phần cứng thấp nhưng cài quá nhiều chương trình máy ảo, máy sẽ chậm và ảnh hưởng đến các chương trình khác.
Do tập trung vào một máy tính, nếu máy bị hư thì toàn bộ các máy tính ảo đã thiết lập trên nó cũng bị ảnh hưởng theo.
Ở góc độ bảo mật, nếu hacker nắm quyền điều khiển máy tính chứa các máy ảo thì hacker có thể kiểm soát được tất cả các máy ảo trong nó.


alien alien alien alien alien alien alien alien
avatar
levanphap(I22A)

Tổng số bài gửi : 15
Join date : 10/03/2013

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 3

Bài gửi  Sponsored content


Sponsored content


Về Đầu Trang Go down

Trang 6 trong tổng số 7 trang Previous  1, 2, 3, 4, 5, 6, 7  Next

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết