Thảo luận Bài 2

Trang 3 trong tổng số 5 trang Previous  1, 2, 3, 4, 5  Next

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

Ví dụ ngắt cứng, ngắt mềm

Bài gửi  TranVuSang (I22B) on 17/3/2013, 21:23

Mình có 1 ví dụ về ngắt cứng và ngắt mềm không biết là đúng không? mong các bạn đóng góp ý kiến.
Ngắt cứng: khi máy tính đang hoạt động, chúng ta bấm vào nút reset thì toàn bộ các chương trình và các tiến trình trong máy đều bị ngưng lại.
Ngắt mềm: khi một chương trình nào đó đang chạy nhưng chúng ta muốn tắt nó nhưng chúng ta ko tắt được do: máy bị treo, ko có nút close tại góc trên bên phải, hoặc do 1 lý do khách quan nào đó ...thì ta có thể vào task manager và chọn vào chương trình muốn tắt và ấn vào nút End Task.

Liên hệ thực tế: 1 cái quạt máy đang chạy nếu chúng ta muốn ngừng nó lại không cho nó quay nữa ( ngắt theo ý muốn của người dùng[chủ quan]) thì ta chỉ cần ấn vào nút tắt là xong( ngắt mềm ), còn nếu như chúng ta không muốn nó tắt nhưng bổng nhiên bị cúp điện hoặc một bộ phận nào đó trong cái quạt bị hỏng và cái quạt bị tắt( ngắt cứng ) ( cái này thì là do yếu tố khách quan <=> ngắt từ các thiết bị phần cứng)

TranVuSang (I22B)

Tổng số bài gửi : 53
Join date : 09/03/2013
Age : 27

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Ngắt cứng, ngắt mềm, lời gọi hệ thống

Bài gửi  TranVuSang (I22B) on 17/3/2013, 22:34

Ngắt (interrupt) là quá trình dừng tiến trình đang chạy để ưu tiên thực hiện một tiến trình khác. Có 2 loại ngắt : ngắt cứng và ngắt mềm.
Ngắt cứng: tính hiệu ngắt được phát ra từ các thiết bị phần cứng buộc các tiến trình đang chạy phải ngừng lại, không cần biết tiến trình này đã được xử lý xong chưa, tính hiệu này được truyền qua system bus.
Ngắt mềm: tính hiệu ngắt được phát ra từ chương trình người dùng, yêu cầu tiến trình đang hoạt động phải ngừng lại để ưu tiên thực hiện một lệnh nào đó nào đó theo nhu cầu của người dùng ví dụ như thực hiện lệnh nhập xuất chẳng hạn.
Với mỗi loại ngắt đều có đoạn mã riêng để HĐH có thể phân biệt và xử lý theo đúng yêu cầu.Mỗi loại ngắt sẽ tương ứng với 1 dòng trong bảng véc-tơ ngắt chứa con trỏ (pointer) chỉ tới chương trình xử lý loại ngắt đó. Khi xử lý ngắt HĐH phải ghi lại địa chỉ của lệnh bị ngắt để sau đó nó có thể quay lại và cho CPU xử lý tiếp tục công việc đã bị ngắt, và lúc này CPU sẽ ko phải tốn thời gian làm lại từ đầu mà chỉ cần tiếp tục công việc của tiến trình đó mà thôi.Các HĐH hiện đại được dẫn dắt bởi các sự kiện, nếu không có tiến trình nào vận hành, không có thiết bị I/O nào làm việc, HĐH im lặng chờ và theo dõi.

Lời gọi hệ thống: Để tạo môi trường giao tiếp giữa chương trình của người sử dụng và HĐH, HĐH đưa ra các lời gọi hệ thống. Chương trình của người sử dụng dùng các lời gọi hệ thống để liên lạc với HĐH và yêu cầu các dịch vụ từ HĐH.
Mỗi lời gọi hệ thống tương ứng với một thủ tục trong thư viện của HĐH, do đó chương trình của người sử dụng có thể gọi thủ tục để thực hiện một lời gọi hệ thống. Lời gọi hệ thống còn được thiết kế dưới dạng các câu lệnh trong các ngôn ngữ lập trình cấp thấp.
Lời gọi hệ thống có thể được chia thành các loại: quản lý tiến trình, thao tác trên tập tin, thao tác trên thiết bị vào/ ra, ...

TranVuSang (I22B)

Tổng số bài gửi : 53
Join date : 09/03/2013
Age : 27

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Nguyên lý xử lý ngắt Hệ Điều Hành

Bài gửi  Dao Duy Thanh(I22B) on 18/3/2013, 08:52

- Có hai loại ngắt chính:
+ Tín hiệu ngắt ( Interrupt Signal ) từ các thiết bị(Ngắt cứng) truyền qua system Bus.
+ Tín hiệu ngắt từ chương trình người dùng (ngắt mềm) nhờ lời goị hệ thống (System Call hay Monitor Call). Lệnh đặc biệt này (ví dụ có tên INT hoặc SysCall) là cơ chế để tiến trình người dùng yêu cầu một dịch vụ của HĐH (ví dụ thực hiện lệnh I/O).
- Với mỗi loại ngắt, có đoạn mã riêng của HĐH dùng để xử lý.
- Các HĐH hiện đại được dẫn dắt bởi các sự kiện. Nếu không có tiến trình nào vận hành,không có thiết bị I/O nào làm việc, HĐH im lặng chờ và theo dõi.
- Thông thường, mỗi loại ngắt tương ứng với một dòng trong bảng (véc-tơ ngắt) chứa con trỏ (Poniter) tới chương trình xử lý loại ngắt đó. Bảng này nằm ờ vùng thấp của RAM.
- Cơ chế xử lý ngắt phải có trách nhiệm ghi lại địa chỉ lệnh bị ngắt để sau đó có thể quay lại địa chỉ này cùng với nhiều thông tin khác có thể được ghi vào ngăn xếp hệ thống (System Stack) với nguyên tắc làm việc LIFO (Last-In,First-Out).
VD:
* Ngắt cứng:khi chương trình đang chạy thì bị ngắt do có câu lệnh buộc phải ngắt chương trình.
* Ngắt mềm:khi chương trình đang chạy nhưng người dùng muốn sử dụng thao tác khác nên máy tính phải dừng việc đang làm và thực thi hiệu lệnh của người dùng.
- Ngắt (interrupt) là quá trình dừng chương trình chính đang chạy để ưu tiên thực hiện
một chương trình khác, chương trình này được gọi là chương trình phục vụ ngắt (ISR –
Interrupt Service Routine).
- Trong các quá trình ngắt, ta phân biệt thành 2 loại: ngắt cứng và ngắt mềm
Ngắt mềm là ngắt được gọi bằng một lệnh trong chương trình ngôn ngữ máy
Khác với ngắt mềm, ngắt cứng không được khởi động bên trong máy tính mà do các
linh kiện điện tử tác đông lên hệ thống.
- Hoạt động: Khi thực hiện lệnh gọi ngắt, CPU sẽ tìm kiếm trong bảng vector ngắt địa chỉ của chương trình phục vụ ngắt. Người sử dụng cũng có thể xây dựng môt chương trình cơ sở như các chương trình xử lý ngắt. Sau đó, các chương trình khác có thể gọi ngắt ra để sử dụng. Một chương trình có thể gọi chương trình con loại này mà không cần biết địa chỉ của nó.

Dao Duy Thanh(I22B)

Tổng số bài gửi : 16
Join date : 13/03/2013
Age : 26

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Cache lựa chọn thông tin theo những tiêu chí nào?

Bài gửi  TranVuSang (I22B) on 18/3/2013, 13:57

"Thông tin từ RAM có thể được cơ chế phần cứng đưa vào bộ nhớ nhanh hơn gọi là Cache. Khi CPU cần chính thông tin đó,không cần phải truy xuất RAM, mà lấy ngay từ Cache."
Các bạn cho mình hỏi là thông tin từ Ram được cơ chế phần cứng đưa vào bộ nhớ dựa vào những tiêu chí nào? Theo mình nghĩ HĐH sẽ có 1 cơ chế đếm số lượng thông tin mà CPU hay sử dụng nhất, nếu số lượng thông tin đó đạt đến 1 mứt giá trị nhất định thì sẽ được đưa vào trong bộ nhớ Cache, không biết có phải vậy không?
Cache có L1 cache và L2 cache và theo bạn PhamQuocCuong (I22A) nói thì"Các cache này nằm giữa CPU và bộ nhớ hệ thống DRAM" vậy nó nằm trên Ram hay trên CPU, hay trên Ram, còn ở giữa thì mình không hình dung ra được, mình nghĩ là nó nằm độc lập "ở giữa" CPU và Ram. Nếu nó nằm trên Ram thì khi mất điện dữ liệu trên Ram bị mất hết mà cache nằm trên Ram tại sao thông tin trong nó không bị mất?

"Các dữ liệu được truy xuất gần đây nhất từ đĩa cứng sẽ được lưu trữ trong một buffer (phần đệm) của bộ nhớ". Vậy khi cache đầy thì sao? có phải là thông tin cũ nhất sẽ bị xóa và thông tin mới nhất sẽ vào vị trí đầu cache không?
Mong các bạn đóng góp ý kiến

TranVuSang (I22B)

Tổng số bài gửi : 53
Join date : 09/03/2013
Age : 27

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 2

Bài gửi  HoangThanhThien(I22B) on 18/3/2013, 23:59

TranVuSang (I22B) đã viết:Mình có 1 ví dụ về ngắt cứng và ngắt mềm không biết là đúng không? mong các bạn đóng góp ý kiến.
Ngắt cứng: khi máy tính đang hoạt động, chúng ta bấm vào nút reset thì toàn bộ các chương trình và các tiến trình trong máy đều bị ngưng lại.
Ngắt mềm: khi một chương trình nào đó đang chạy nhưng chúng ta muốn tắt nó nhưng chúng ta ko tắt được do: máy bị treo, ko có nút close tại góc trên bên phải, hoặc do 1 lý do khách quan nào đó ...thì ta có thể vào task manager và chọn vào chương trình muốn tắt và ấn vào nút End Task.

Liên hệ thực tế: 1 cái quạt máy đang chạy nếu chúng ta muốn ngừng nó lại không cho nó quay nữa ( ngắt theo ý muốn của người dùng[chủ quan]) thì ta chỉ cần ấn vào nút tắt là xong( ngắt mềm ), còn nếu như chúng ta không muốn nó tắt nhưng bổng nhiên bị cúp điện hoặc một bộ phận nào đó trong cái quạt bị hỏng và cái quạt bị tắt( ngắt cứng ) ( cái này thì là do yếu tố khách quan <=> ngắt từ các thiết bị phần cứng)

Ví dụ liên hệ thực tế về cái quạt ??? có mâu thuẫn vs đoạn ví dụ trên không bạn

HoangThanhThien(I22B)

Tổng số bài gửi : 43
Join date : 14/03/2013

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 2

Bài gửi  HoangThanhThien(I22B) on 19/3/2013, 00:04

TranThienTam (I22A) đã viết:Công nhận cache càng lớn chạy càng đã Very Happy
Đợt đc sài thử con Core 2duo E8200 cache 6MB chạy nhanh hơn cả core i3 chứ chả chơi Twisted Evil

Do nhiều yếu tố chứ bạn, chứ đâu hẳng cache là càng chạy nhanh

HoangThanhThien(I22B)

Tổng số bài gửi : 43
Join date : 14/03/2013

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 2

Bài gửi  NguyenHoangKimVu (I11C) on 19/3/2013, 18:02

HoangThanhThien(I22B) đã viết:
TranVuSang (I22B) đã viết:Mình có 1 ví dụ về ngắt cứng và ngắt mềm không biết là đúng không? mong các bạn đóng góp ý kiến.
Ngắt cứng: khi máy tính đang hoạt động, chúng ta bấm vào nút reset thì toàn bộ các chương trình và các tiến trình trong máy đều bị ngưng lại.
Ngắt mềm: khi một chương trình nào đó đang chạy nhưng chúng ta muốn tắt nó nhưng chúng ta ko tắt được do: máy bị treo, ko có nút close tại góc trên bên phải, hoặc do 1 lý do khách quan nào đó ...thì ta có thể vào task manager và chọn vào chương trình muốn tắt và ấn vào nút End Task.

Liên hệ thực tế: 1 cái quạt máy đang chạy nếu chúng ta muốn ngừng nó lại không cho nó quay nữa ( ngắt theo ý muốn của người dùng[chủ quan]) thì ta chỉ cần ấn vào nút tắt là xong( ngắt mềm ), còn nếu như chúng ta không muốn nó tắt nhưng bổng nhiên bị cúp điện hoặc một bộ phận nào đó trong cái quạt bị hỏng và cái quạt bị tắt( ngắt cứng ) ( cái này thì là do yếu tố khách quan <=> ngắt từ các thiết bị phần cứng)

Ví dụ liên hệ thực tế về cái quạt ??? có mâu thuẫn vs đoạn ví dụ trên không bạn

Theo mình nghĩ, khi cái quạt đang quay nhưng ta dùng tay hay vật gì cản lại không cho quay tiếp thì đó là ngắt cứng.
Còn tắt quạt như bình thường thì đó là ngắt mềm.

NguyenHoangKimVu (I11C)

Tổng số bài gửi : 62
Join date : 25/08/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 2

Bài gửi  PhungVanTan(I22A) on 19/3/2013, 19:06

NguyenHoangKimVu (I11C) đã viết:
HoangThanhThien(I22B) đã viết:
TranVuSang (I22B) đã viết:Mình có 1 ví dụ về ngắt cứng và ngắt mềm không biết là đúng không? mong các bạn đóng góp ý kiến.
Ngắt cứng: khi máy tính đang hoạt động, chúng ta bấm vào nút reset thì toàn bộ các chương trình và các tiến trình trong máy đều bị ngưng lại.
Ngắt mềm: khi một chương trình nào đó đang chạy nhưng chúng ta muốn tắt nó nhưng chúng ta ko tắt được do: máy bị treo, ko có nút close tại góc trên bên phải, hoặc do 1 lý do khách quan nào đó ...thì ta có thể vào task manager và chọn vào chương trình muốn tắt và ấn vào nút End Task.

Liên hệ thực tế: 1 cái quạt máy đang chạy nếu chúng ta muốn ngừng nó lại không cho nó quay nữa ( ngắt theo ý muốn của người dùng[chủ quan]) thì ta chỉ cần ấn vào nút tắt là xong( ngắt mềm ), còn nếu như chúng ta không muốn nó tắt nhưng bổng nhiên bị cúp điện hoặc một bộ phận nào đó trong cái quạt bị hỏng và cái quạt bị tắt( ngắt cứng ) ( cái này thì là do yếu tố khách quan <=> ngắt từ các thiết bị phần cứng)

Ví dụ liên hệ thực tế về cái quạt ??? có mâu thuẫn vs đoạn ví dụ trên không bạn

Theo mình nghĩ, khi cái quạt đang quay nhưng ta dùng tay hay vật gì cản lại không cho quay tiếp thì đó là ngắt cứng.
Còn tắt quạt như bình thường thì đó là ngắt mềm.

Mình lại nghĩ nó đều là ngắt cứng cả, ngắt mềm là trường hợp mình dùng remote quạt nó gởi tín hiều tắt đến cái quạt.
avatar
PhungVanTan(I22A)

Tổng số bài gửi : 21
Join date : 19/03/2013
Đến từ : Thiên Đường

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 2

Bài gửi  NguyenHoangKimVu (I11C) on 19/3/2013, 22:09

PhungVanTan(I22A) đã viết:Mình lại nghĩ nó đều là ngắt cứng cả, ngắt mềm là trường hợp mình dùng remote quạt nó gởi tín hiều tắt đến cái quạt.

Dùng remote hay sử dụng nút bấm trên cái quạt đó thì cũng như nhau mà bạn.
P/S: Mong Thầy vô giải đáp cho chúng em.

NguyenHoangKimVu (I11C)

Tổng số bài gửi : 62
Join date : 25/08/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 2

Bài gửi  HoangThanhThien(I22B) on 20/3/2013, 00:55

NguyenVanLanh (I22A) đã viết:Thông tin trong RAM được đưa trực tiếp vào bộ nhớ cache và khi được các chương trình request sd từ người dùng thì caching đáp ứng lại dựa vào thông tin tương ứng được lưu trong cache đới từng program.
Thông tin được lưu trong caching sẽ truy cập nhanh so voi trong RAM.
Caching là bộ nhớ mở rộng. Thông tin trong bộ nhớ caching không do hệ dieu hành quản lý mà do ổ cứng quản lý.


**************
Nhờ các bạn bổ sung và post dùm Lành các ý còn lại của câu 4

1. Thông tin từ Ram có thể đc cơ chế phần cứng đưa vào bộ nhớ nhanh hơn gọi là Cache. Khi CPU cần chính thông tin đó, không cần phải truy xuất RAM, mà lấy ngay từ Cache.
2. Loại bộ nhớ này không do HĐH quản lý và cấp phát mà do CPU quản lý.
Ví dụ: Bạn nghe một clip ca nhạc trên youtube, bạn dowload về hết xem nhanh và không cần bấm pause, còn coi trên online phải chờ load.

HoangThanhThien(I22B)

Tổng số bài gửi : 43
Join date : 14/03/2013

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Trình bày nguyên lý bảo vệ phần cứng Mode Bit

Bài gửi  HoangThanhThien(I22B) on 20/3/2013, 00:58

1. Một Mode Bit được đưa vào phần cứng của máy để chỉ báo chế độ làm việc hiện hành: 0 - Monitor Mode, 1 - User Mode.
2. Khi xảy ra ngắt, phần cứng chuyển từ User Mode sang Monitor Mode bằng cách đặt Mode Bit thành 0.
3. Hệ điều hành đặt Mode Bit bằng 1 trước khi trả điều khiển về tiến trình người dùng.
ví dụ: giống đèn xanh đèn đỏ, đèn xanh tượng trưng cho bit 0, và đèn đỏ tượng trưng cho bit 1. Bit 0 bật xe lưu thông và ngược lại bit 1 bật xe dừng lại

HoangThanhThien(I22B)

Tổng số bài gửi : 43
Join date : 14/03/2013

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 2

Bài gửi  TranDangKhoa(I22A) on 20/3/2013, 16:21

DamQuangBinh (I22A) đã viết: 1/ Khái niệm :
Mỗi khi một thiết bị phần cứng hay một chương trình cần đến sự giúp đỡ của CPU nó gửi đi một tín hiệu hoặc lệnh gọi là ngắt đến bộ vi xử lý chỉ định một công việc cụ thể nào đó mà nó cần CPU thực hiện .Khi bộ vi xử lý nhận được tín hiệu ngắt nó thường tạm ngưng tất cả các hoạt động khác và kích hoạt một chương trình con đang có trong bộ nhớ gọi là chương trình xử lý ngắt tương ứng với từng số liệu ngắt cụ thể .Sau khi chương trình xử lý ngắt làm xong nhiệm vụ, các hoạt động của máy tính sẽ tiếp tục lại từ nơi đã bị tạm dừng lúc xảy ra ngắt .
Ngắt (interrupt) là khả năng tạm dừng chương trình chính dể thực hiện chương trình khác gọi là chương trình con xử lý ngắt.

2/ Phân loại ngắt :
- Các ngắt cứng : Ðược thiết kế sẵn trong phần cứng của của PC ,tám ngắt trong số các ngắt này (2,8,9,từ Bh đến Fh ) được gắn chết vào trong bộ VXL hoặc vào bảng mạch chính của hệ thống .Tất cả các ngắt cứng đều do 8259A điều khiển .
- Các ngắt mềm: Những ngắt này là một phần của các chương trình ROM -BIOS ,các số hiệu dành cho các ngắt của ROM- BIOS là 5 ,từ 10h đến 1C hex và 48h .
Ngoài ra còn có các ngắt DOS và ngắt BASIC phục vụ hệ điều hành DOS và chương trình BASIC .



Chào bạn, nhờ bạn mà mình biết thêm được một số khái niệm về ngắt. Quả thật, nhờ tính linh động của quá trình ngắt, nên ta người dùng hiện nay có thể cảm thấy khá "trong suốt" trong quá trình sử dụng. Và người dùng có thể làm việc được với nhiều ứng dụng và chương trình vẫn cảm thấy thật sự hiệu quả trong quá trình sử dụng.
avatar
TranDangKhoa(I22A)

Tổng số bài gửi : 32
Join date : 10/03/2013
Age : 25
Đến từ : Lớp I22A

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Phân loại bộ nhớ

Bài gửi  DuongTrungQuan on 22/3/2013, 10:02

Như ta đã biết Bộ nhớ là thiết bị nhớ có thể ghi và chứa thông tin. Mỗi loại thì lại có dung lượng, tốc độ truy cập, cổng giao tiếp khác nhau.
Bộ nhớ được phân ra 16 loại như sau: (sao nhiều vậy nhỉ Rolling Eyes )
1. ROM (Read Only Memory)
Ðây là loại bộ nhớ dùng trong các hãng sãn xuất là chủ yếu. Nó có đặc tính là
thông tin lưu trữ trong ROM không thể xoá được và không sửa được, thông tin sẽ được
lưu trữ mãi mãi. Nhưng ngược lại ROM có bất lợi là một khi đã cài đặt thông tin vào rồi
thì ROM sẽ không còn tính đa dụng. Ví dụ điển hình là các con "chip" trên motherboard
hay là BIOS ROM để vận hành khi máy tính vừa khởi động.
2. PROM (Programmable ROM)
Mặc dù ROM nguyên thủy là không ghi hay xóa được, nhưng các thế hệ sau của
ROM đã đa dụng hơn như PROM. Các hãng sản xuất có thể cài đặt lại ROM bằng cách
dùng các loại dụng cụ đặc biệt và đắt tiền. Thông tin có thể cài đặt vào chip và nó sẽ lưu
lại mãi trong chip. Một đặc điểm lớn nhất của loại PROM là thông tin chỉ cài đặt một lần
mà thôi. CD cũng có thể được gọi là PROM vì chúng ta có thể lưu trữ thông tin vào nó
chỉ một lần duy nhất và không thể xoá được.
3. EPROM (Erasable Programmable ROM)
Một dạng cao hơn PROM là EPROM, tức là ROM có thể xoá và ghi lại được.
EPROM khác PROM ở chỗ là thông tin có thể được viết và xoá nhiều lần theo ý người sử
dụng, và phương pháp xoá là phần cứng (dùng tia hồng ngoại).
4. EEPROM (Electrically Erasable Programmable ROM)
Ðây là một dạng cao hơn EPROM, đặt điểm khác biệt duy nhất so với EPROM là
có thể ghi và xoá thông tin lại nhiều lần bằng phần mềm.
5. RAM (Random Access Memory)
RAM là thế hệ kế tiếp của ROM, cả RAM và ROM đều là bộ nhớ truy xuất ngẫu
nhiên, tức là dữ liệu được truy xuất không cần theo thứ tự. Tuy nhiên ROM chạy chậm
hơn RAM rất nhiều. Thông thường ROM cần trên 50ns để xử lý dữ liệu trong khi đó
RAM cần dưới 10ns.
6. SRAM (Static RAM) và DRAM (Dynamic RAM)
SRAM (RAM tĩnh) là loại RAM lưu trữ dữ liệu không cần cập nhật thường xuyên
trong khi DRAM là loại RAM cần cập nhật dữ liệu thường xuyên. Thông thường dữ liệu
trong DRAM sẽ được làm tươi (refresh) nhiều lần trong một giây để giữ lại những thông
tin đang lưu trữ, nếu không thì dữ liệu trong DRAM cũng sẽ bị mất do hiện tượng rò rỉ
điện tích của các tụ điện. Các khác biệt của SRAM so với DRAM:
- Tốc độ của SRAM lớn hơn DRAM do không phải tốn thời gian refresh..
- Chế tạo SRAM tốn kém hơn DRAM nên thông thường sử dụng DRAM để
hạ giá thành sản phẩm.
7. FPM - DRAM (Fast Page Mode DRAM)
Là một dạng cải tiến của DRAM, về nguyên lý thì FPM - DRAM sẽ chạy nhanh
hơn DRAM do cải tiến cách dò địa chỉ trước khi truy xuất dữ liệu. FPM - DRAM hầu như
không còn sản xuất trên thị trường hiện nay nữa.
8. EDO - DRAM (Extended Data Out DRAM)
Là một dạng cải tiến của FPM - DRAM, nó truy xuất nhanh hơn FPM - DRAM
nhờ một số cải tiến cách dò địa chỉ trước khi truy cập dữ liệu. Tuy nhiên, EDO - DRAM
là cần hỗ của chipset hệ thống. Loại bộ nhớ nầy chạy với máy 486 trở lên (tốc độ dưới
75MHz). EDO DRAM cũng đã quá cũ so với kỹ thuật hiện nay, tốc độ của EDO-DRAM
nhanh hơn FPM-DRAM từ 10 - 15%.
9. BDEO-DRAM (Burst Extended Data Out DRAM)
Là thế hệ sau của EDO DRAM, dùng kỹ thuật đường ống (pipeline) để rút ngắn
thời gian dò địa chỉ.
10. SDRAM (Synchronous DRAM)
Ðây là một loại RAM có nguyên lý chế tạo khác hẳn với các loại RAM trước.
Đồng bộ (synchronous) là một khái niệm rất quan trọng trong lĩnh vực số. RAM hoạt
động do một bộ điều khiển xung nhịp (clock memory), dữ liệu sẽ được truy xuất hay cập
nhật mỗi khi clock chuyển từ logic 0 sang 1, đồng bộ có nghĩa là ngay lúc clock nhảy từ
logic 0 sang 1 chứ không hẳn là chuyển sang logic 1 hoàn toàn (tác động bằng cạnh
xung). Do kỹ thuật này, SDRAM và các thế hệ sau có tốc độ cao hơn hẳn các loại DRAM
trước, đạt tốc độ 66, 100, 133 MHz.
11. DDR SDRAM (Double Data Rate SDRAM)
Ðây là loại bộ nhớ cải tiến từ SDRAM. Nó nhân đôi tốc độ truy cập của SDRAM
bằng cách dùng cả hai quá trình đồng bộ khi clock chuyển từ logic 0 sang 1 và từ logic 1sang 0 (dùng cả cạnh âm và cạnh dương). Loại RAM này được CPU Intel và AMD hỗ trợ,
tốc độ vào khoảng 266 MHz. (DDR-SDRAM đã ra đời trong năm 2000)
12. DRDRAM (Direct Rambus DRAM)
Hệ thống Rambus (tên hãng chế tạo) có nguyên lý và cấu trúc chế tạo hoàn toàn
khác loại SDRAM truyền thống. Bộ nhớ sẽ được vận hành bởi một hệ thống phụ gọi là
kênh truyền Rambus trực tiếp (direct Rambus channel) có độ rộng bus 16 bit và một xung
clock 400MHz (có thể lên tới 800MHz). Theo lý thuyết thì cấu trúc mới nầy sẽ có thể trao
đổi dữ liệu với tốc độ 400MHz x 16 bit = 400MHz x 2 bytes = 800 MBps. Hệ thống
Rambus DRAM cần một chip serial presence detect (SPD) để trao đổi với motherboard.
Ta thấy kỹ thuật mới nầy dùng giao tiếp 16 bit, khác hẳn với cách chế tạo truyền thống là
dùng 64 bit cho bộ nhớ nên kỹ thuật Rambus cho ra đời loại chân RIMM (Rambus Inline
Memory Module), khác so với bộ nhớ truyền thống. Loại RAM này chỉ được hỗ trợ bởi
CPU Intel Pentum IV, tốc độ vào khoảng 400 – 800 MHz
13. SLDRAM (Synchronous - Link DRAM)
Là thế hệ sau của DRDRAM, thay vì dùng kênh Rambus trực tiếp 16 bit và tốc độ
400MHz, SLDRAM dùng bus 64 bit chạy với tốc độ 200MHz. Theo lý thuyết thì hệ
thống mới có thể đạt được tốc độ 200MHz x 64 bit = 200MHz x 8 bytes = 1600 MBps,
tức là gấp đôi DRDRAM. Ðiều thuận tiện là là SLDRAM được phát triển bởi một nhóm
20 công ty hàng đầu về vi tính cho nên nó rất da dụng và phù hợp nhiều hệ thống khác
nhau.
14. VRAM (Video RAM)
Khác với bộ nhớ trong hệ thống, do nhu cầu về đồ hoạ ngày càng cao, các hãng
chế tạo card đồ họa đã chế tạo VRAM riêng cho video card của họ mà không cần dùng bộ
nhớ của hệ thống chính. VRAM chạy nhanh hơn vì ứng dụng kỹ thuật Dual Port nhưng
đồng thời cũng đắt hơn rất nhiều.
15. SGRAM (Synchronous Graphic RAM)
Là sản phẩm cải tiến của VRAM, nó sẽ đọc và viết từng block thay vì từng mảng
nhỏ.
16. Flash Memory
Là sản phẩm kết hợp giữa RAM và đĩa cứng, bộ nhớ flash có thể chạy nhanh như
SDRAM mà và vẫn lưu trữ được dữ liệu khi không có nguồn cung cấp.

DuongTrungQuan

Tổng số bài gửi : 57
Join date : 16/02/2012

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Trình bày nguyên lý bảo vệ phần cứng - trình bày nguyên lý bảo vệ phần cứng bằng Mode Bit?

Bài gửi  DuongTrungQuan on 22/3/2013, 10:06

TL:
- H ệ điều hành dung cơ chế Dual-Mode để duy trì 2 chế đọ là User Mode và Monitor Mode (Còn gọi là Supervisor Mode, System mode hoặc Privileged mode) để bảo vệ hệ thống và các tiến trình đang vận hành.
- Một Mode Bit được đưa vào phẩn cứng của máy để chỉ báo chế đọ làm việc hiên hành
0- Monitor mode, 1- User mode
- Khi xảy ra ngắt phần cứng chuyển từ User mode sang Monitor Mode bằng cách đặt Mode Bit thành 0.
- Hệ điều hành đặt Mode Bit bằng 1 trước khi trả điều khiển tiến trình người dung.
- Bộ xử lý Pentium hổ trwoj Mode Bit, do đó các Hệ ddiieuf hành windows 2000 và OS/2 tận dụng được tính năng này để bảo vệ máy tính tốt hơn.

DuongTrungQuan

Tổng số bài gửi : 57
Join date : 16/02/2012

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Câu 6 : Trình bày thuật giải bảo vệ bộ nhớ chính bằng thanh ghi cơ sở và thanh ghi giới hạn?

Bài gửi  DuongTrungQuan on 22/3/2013, 10:06

TL:
- Để tiến trình người dùng không can thiệp được vào vùng nhớ của hệ điều hành và các tiến trình khác, thường sử dụng hai thanh ghi :
. Thanh ghi Cơ sở (Base register): được dùng để lưu trữ địa chỉ ô nhớ hợp lệ nhỏ nhất
. Thanh ghi Giới hạn (Limit register): lưu trữ kích thước của cả ô nhớ.
Ví dụ, nếu thanh ghi base lưu trữ giá trị 300040 và thanh ghi limit lưu trữ giá trị là 120900 thì chương trình sẽ có thể truy cập hợp lệ vào các địa chỉ ô nhớ trong khoảng từ 300040 cho đến 420940.
- Chỉ có HĐH mới có thể sửa được nội dung hai thanh ghi này. Vì thanh ghi base và limit chỉ có thể được nạp bởi hệ điều hành

DuongTrungQuan

Tổng số bài gửi : 57
Join date : 16/02/2012

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Bảo vệ Nhập/Xuất bằng System Call

Bài gửi  ChauQuangCam (I22B) on 22/3/2013, 15:12

System call làphương thức duy nhất mà process dùng để yêu cầu các dịch vụ cung cấp bởi OS
- Các system call gây ra ngắt mềm (gọi là trap).
- Quyền điều khiển được chuyển đến trình phục vụ ngắt, mode bit được thiết lập là monitor mode.
- OS kiểm tra tính hợp lệ và đúng đắn của các đối số, thực hiện yêu cầu và trả quyền điều khiển về lệnh kế tiếp sau system call.

ChauQuangCam (I22B)

Tổng số bài gửi : 23
Join date : 11/03/2013

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Trình bày nguyên tắc xử lý ngắt của hệ điều hành

Bài gửi  NguyenVanPhu11(I22A) on 23/3/2013, 11:00

Trình bày nguyên tắc xử lý ngắt của hệ điều hành
* Hai loại nhắt chính :
- Tín hiệu ngắt (Internal Singal) từ các thiết bị (ngắt cứng) truyền qua System Bus.
- Tín hiệu ngắt từ chương trình người dùng (ngắt mếm) nhờ lời gọi hệ thống (System Call hay Monitor Call). Lệnh đặc biệt này (ví dụ có tên INT hoặc SysCall) cơ chế để tiến trình người dùng yêu cầu một dịch vụ của HĐH (ví dụ yêu cầu thực hiện lệnh I/O).
* Với mỗi loại ngắt, có đoạn mã riêng của HĐH dùng để xử lý.
* Các HĐH hiện đại được dẩn dắt bởi các sự kiện. Nế ko có tiến trình nào vận hành, ko có thiết bị I/O nào làm việc, HĐH chờ và theo dõi.
* Thông thường mỗi loại ngắt ứng với một dòng trong bản (Véc-tơ ngắt)chứa con trỏ (Pointer) tới chương trình xử lý loại ngắt đó. Bảng này nằm ở vùng thấp của Ram (ví dụ 100 bytes đầu tiên).
* Cơ chế xử lý ngắt phải có trách nhiệm ghi lại địa chỉ lệnh bị ngắt để sau đó có thể quay lại. Địa chỉ này cùng với nhiều thông tin khác có thể được ghi vào Ngăn xếp hệ thống (System Stack) với nguyên tắc làm việc LIFO(Last-In,First-Out).

NguyenVanPhu11(I22A)

Tổng số bài gửi : 11
Join date : 23/03/2013

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Nhập xuất đồng bộ và nhập xuất không đồng bộ.

Bài gửi  NguyenVanPhu11(I22A) on 23/3/2013, 11:03

Nhập xuất đồng bộ và nhập xuất không đồng bộ.

+ Đồng bộ: nhập xuất có chờ ( tiến trình người dùng chờ thiết bị nhập xuất )
VD: Nhập liệu văn bản
+ Không đồng bộ : Nhập xuất không chờ (tiến trình người dùng không chờ thiết bị nhập xuất kết thúc mà làm ngay những thực hiện khác)
Vd : Máy in .

NguyenVanPhu11(I22A)

Tổng số bài gửi : 11
Join date : 23/03/2013

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Trình bày nguyên lý lưu gần (caching) sử dụng trong máy tính

Bài gửi  NguyenVanPhu11(I22A) on 23/3/2013, 11:04

Trình bày nguyên lý lưu gần (caching) sử dụng trong máy tính
Là nguyên tắc quan trọng của hệ thống máy tính.
- Thông tin từ RAM có thể được cơ chế phần cứng đưa vào bộ nhớ nhanh hơn gọi là Cache. Khi CPU cần chính thông tin đó, không cần phải truy xuất RAM, mà lấy ngay từ Cache.
- Loại bộ nhớ này không do HĐH quản lý và cấp phát.
- Thực tế, RAM (Bộ nhớ Sơ cấp) là loại Cache nhanh so với đĩa cứng (Bộ nhớ thứ cấp) và HĐH có chức năng quản lý sự lưu chuyển dữ liệu giữa 2 loại bộ nhớ này

NguyenVanPhu11(I22A)

Tổng số bài gửi : 11
Join date : 23/03/2013

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Trình bày thuật giải bảo vệ bộ nhớ bằng thanh ghi cơ sở và thanh ghi giới hạn

Bài gửi  NguyenVanPhu11(I22A) on 23/3/2013, 11:06

Trình bày thuật giải bảo vệ bộ nhớ bằng thanh ghi cơ sở và thanh ghi giới hạn
- CPU tính toán ra một địa chỉ và địa chỉ này phải được kiểm tra tính hợp lệ.
- Nếu địa chỉ nhỏ hơn giá trị lưu trong thanh ghi cơ sở thì hệ thống sẽ báo lỗi.
- Nếu địa chỉ lớn hơn hoặc bằng giá trị lưu trong thanh ghi cơ sở thì tiếp tục được kiểmtra với giá trị trong thanh ghi giới hạn cộng với giá trị trong thanh ghi cơ sở.
- Nếu địa chỉ lớn hơn hoặc bằng tổng trên thì hệ thống sẽ báo lỗi truy cập sai địa chỉ.

NguyenVanPhu11(I22A)

Tổng số bài gửi : 11
Join date : 23/03/2013

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Lời gọi hệ thống

Bài gửi  NguyenThanhQuoc(I22A) on 23/3/2013, 13:09

Lời gọi hệ thống cung cấp giao diện giữa một quá trình và hệ điều hành. Các lời
gọi này thường sẳn dùng như các chỉ thị hợp ngữ và chúng thường được liệt kê trong
những tài liệu hướng dẫn sử dụng được dùng bởi những người lập trình hợp ngữ.
Những hệ thống xác định cho phép lời gọi hệ thống được thực hiện trực tiếp từ một
chương trình ngôn ngữ cấp cao, trong đó các lời gọi thường tương tự lời gọi hàm hay
thủ tục được định nghĩa trước. Chúng có thể tạo ra một lời gọi tới một chương trình
con tại thời điểm thực thi cụ thể.
Lời gọi hệ thống xảy ra trong nhiều cách khác nhau, phụ thuộc vào máy tính
đang dùng. Thường nhiều thông tin được yêu cầu hơn là đơn giản xác định lời gọi hệ
thống mong muốn. Loại chính xác và lượng thông tin khác nhau dựa vào hệ điều hành
và lời gọi cụ thể. Thí dụ, để nhập dữ liệu, chúng ta có thể cần xác định tập tin hay
thiết bị dùng như nguồn nhập, địa chỉ và chiều dài vùng đệm bộ nhớ mà dữ liệu nhập
sẽ được đọc vào. Dĩ nhiên, thiết bị hay tập tin và chiều dài có thể ẩn trong lời gọi.


Truyền tham số như bảng


Có ba phương pháp thông dụng để truyền tham số tới hệ điều hành. Phương
pháp đơn giản nhất là truyền tham số trong các thanh ghi. Trong một vài trường hợp,
các tham số thường lưu trữ trong một khối hay bảng trong bộ nhớ và địa chỉ của khối
được truyền như một tham số trong thanh ghi . Các tham số cũng có thể
được thay thế, hay được đẩy vào trong ngăn xếp bởi chương trình, và được lấy ra khỏi
ngăn xếp bởi hệ điều hành. Một vài hệ điều hành dùng phương pháp khối hay ngăn
xếp vì các phương pháp này không giới hạn số lượng hay chiều dài của tham số đang
được truyền.


p/s:nguồn tham khảo

NguyenThanhQuoc(I22A)

Tổng số bài gửi : 18
Join date : 09/03/2013
Age : 24
Đến từ : lớp TH10a3, Dh mở tp.hcm

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re.Trình bày nguyên tắc xử lý ngắt của hệ điều hành

Bài gửi  NguyenVanLanh (I22A) on 23/3/2013, 16:00

LeAnhToan48(I22B) đã viết:* Hai loại nhắt chính :
- Tín hiệu ngắt (Internal Singal) từ các thiết bị (ngắt cứng) truyền qua System Bus.
- Tín hiệu ngắt từ chương trình người dùng (ngắt mếm) nhờ lời gọi hệ thống (System Call hay Monitor Call). Lệnh đặc biệt này (ví dụ có tên INT hoặc SysCall) cơ chế để tiến trình người dùng yêu cầu một dịch vụ của HĐH (ví dụ yêu cầu thực hiện lệnh I/O).
* Với mỗi loại ngắt, có đoạn mã riêng của HĐH dùng để xử lý.
* Các HĐH hiện đại được dẩn dắt bởi các sự kiện. Nế ko có tiến trình nào vận hành, ko có thiết bị I/O nào làm việc, HĐH chờ và theo dõi.
* Thông thường mỗi loại ngắt ứng với một dòng trong bản (Véc-tơ ngắt)chứa con trỏ (Pointer) tới chương trình xử lý loại ngắt đó. Bảng này nằm ở vùng thấp của Ram (ví dụ 100 bytes đầu tiên).
* Cơ chế xử lý ngắt phải có trách nhiệm ghi lại địa chỉ lệnh bị ngắt để sau đó có thể quay lại. Địa chỉ này cùng với nhiều thông tin khác có thể được ghi vào Ngăn xếp hệ thống (System Stack) với nguyên tắc làm việc LIFO(Last-In,First-Out).

Có thiếu sót gì mong các bạn bổ sung đóng góp thêm Very Happy

Hok có sót gì hết bạn ơi... bounce

NguyenVanLanh (I22A)

Tổng số bài gửi : 21
Join date : 08/03/2013

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re.Ví dụ ngắt cứng, ngắt mềm

Bài gửi  NguyenVanLanh (I22A) on 23/3/2013, 16:46

TranVuSang (I22B) đã viết:Mình có 1 ví dụ về ngắt cứng và ngắt mềm không biết là đúng không? mong các bạn đóng góp ý kiến.
Ngắt cứng: khi máy tính đang hoạt động, chúng ta bấm vào nút reset thì toàn bộ các chương trình và các tiến trình trong máy đều bị ngưng lại.
Ngắt mềm: khi một chương trình nào đó đang chạy nhưng chúng ta muốn tắt nó nhưng chúng ta ko tắt được do: máy bị treo, ko có nút close tại góc trên bên phải, hoặc do 1 lý do khách quan nào đó ...thì ta có thể vào task manager và chọn vào chương trình muốn tắt và ấn vào nút End Task.

Liên hệ thực tế: 1 cái quạt máy đang chạy nếu chúng ta muốn ngừng nó lại không cho nó quay nữa ( ngắt theo ý muốn của người dùng[chủ quan]) thì ta chỉ cần ấn vào nút tắt là xong( ngắt mềm ), còn nếu như chúng ta không muốn nó tắt nhưng bổng nhiên bị cúp điện hoặc một bộ phận nào đó trong cái quạt bị hỏng và cái quạt bị tắt( ngắt cứng ) ( cái này thì là do yếu tố khách quan <=> ngắt từ các thiết bị phần cứng)


Liên quan đến nút reset và nguồn thì mjh cũng có vd:
Vd như các nút hay các bộ phận nào gắn trên máy tính gắn liền với 1 chức năng hay 1 nhiệm vụ cụ thể gọi là ngắt cứng(vd có những bàn phìm có nút "www" có tác dụng là nhập địa chỉ web thôi ngoài ra hok làm gì hết. ngoài ra còn có nút nguồn, nút nguồn màn hình) .Ngược lại ngắt cứng llà ngắt mềm, những gì được gọi thông qua lệnh từ chương trình điều khiển gọi là ngắt mềm(vd tắt máy vào MS Dos gõ shutdown -i) Very Happy

NguyenVanLanh (I22A)

Tổng số bài gửi : 21
Join date : 08/03/2013

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 2

Bài gửi  nguyenthithutrang (I11C) on 23/3/2013, 22:02

Quy trình khởi động của hệ điều hành
Khi bắt đầu nhấn nút Power,video được khởi gọi,tiến trình tự kiểm tra của phần cứng được bắt đầu.BIOS thực hiện những cuộc kiểm tra,gọi là POSTS(power-on selftests). Bình thường việc kiểm tra bộ nhớ là dễ nhìn thấy nhất,tiến trình của nó có thể thấy dễ dàng trên mọi màn hình lúc khởi động.

Sau khi chạy xong POST,hệ thống sẽ khởi gọi các adapter(thiết bị tiếp hợp).Nếu trong các adapter đã có sẵn BIOS của chính chúng,BIOS của Adapter sẽ được gọi để thực thi sự khởi động của chúng.Đối với các thiết bị giao tiếp IDE(thường các máy tính có từ 2-4 giao tiếp IDE),mỗi ổ đĩa đã kết nối (thường có thể gắn đến 2 ổ đĩa cho mỗi giao tiếp IDE,do đó có thể cho phép gắn nhiều nhất lên đến 8 ổ đĩa) được truy vấn các đặc tính và các phương thức truy cập của chúng.1 vài thiết bị như các thiết bị giao tiếp SCSI trưng bày những thông tin trên màn hình và cho phép người sử dụng có thể tương tác với nó.Các Adapter không có tích hợp sẵn BIOS sẽ không được khởi tạo cho đến khi Win XP load các driver của chúng trong tiến trình khởi động.

Sau khi tất cả các adapter có BIOS đã được khởi tạo,hệ thống bắt đầu khởi động tiến trình load,đọc sector nằm ở vị trí bắt đầu của đĩa khởi động và thực hiện các câu lệnh(đoạn code) trong sector này.Sector này được gọi bởi sector khởi động hoặc MBR(Master Boot Record), nó được viết bởi hệ điều hành khi được cài đặt.

Đoạn code trong MBR load file NTLDR(File này không có đuôi mở rộng) Sau khi load,MBR chuyển điều khiển đến đoạn code trong NTLDR.

(Sưu tầm)
NTLDR sau đó chuyển vào mode 32 bit(Chú ý rằng 1 bộ xử lý của Intel luôn khởi động vào mode 16 bit).Sau đó nó load 1 bản sao đặc biệt của các file hệ thống I/O và đọc chúng trong file boot.ini.

File boot.ini có thông tin về mỗi hệ điều hành cần khởi động.Windows XP có khả năng hỗ trợ đa khởi động(Điều đó là bình thường để cài đặt Win XP có thể khởi động với Windows NT, Windows XP, Windows 95 or Windows 98).File NTLDR tiến hành xử lý file boot.ini, trưng bày các thông tin cho phép người sử dụng lựa chọn hệ điều hành nào sẽ được load.

Khi bạn chọn Win Xp để load,file NTLDR sẽ load file ntdetect.com. Đây là file thu thập các thông tin về phần cứng được cài đặt hiện hành và lưu giữ những thông tin này vào registry.Hầu hết các thông tin này được lưu giữ trong cây HKEY_LOCAL_MACHINE .

1 khi file NTDETECT đã kiểm tra xong phần cứng,điểu khiển được trả về lại cho file NTLDR và tiến trình khởi động lại được tiếp tục.Vào thời gian này Registry đã được cập nhật về cơ bản cấu hình các phần cứng trong máy tính ,thông tin cấu hình này được lưu trữ trong HKEY_LOCAL_MACHINEHardware.

Dấu nhắc lựa chọn cấu hình "Press spacebar now to invoke Hardware Profile/Last Known Good menu," cho phép Win XP sử dụng những cấu hình đặc biệt, được lưu trữ trong HKEY_LOCAL_MACHINE.

Theo sau sự kiểm tra của file NTDETECT,file NTLDR load và khởi tạo các nhân Windows NT,load các services, và bắt đầu Windows.

Khi các nhân đã được load xong, HAL(Hardware Abstraction Layer) cũng được load,nó được sử dụng để quản lý các thiết bị phần cứng.Kế đến các khóa trong registry HKEY_LOCAL_MACHINE_System cũng được load vào bộ nhớ. Windows XP sẽ quét registry để tìm tất cả các drivers bắt đầu với giá trị 0,bao gồm những drivers sẽ được load và khởi tạo vào lúc khởi động.

Sau đó các nhân sẽ được khởi tạo. Màn hình chào đón chuyển đến khung nền đen và bạn sẽ nhìn thấy thông tin về build number của Windows XP và number của bộ xử lý hệ thống.Tại đây ,hệ thống sẽ quét lại lần nữa registry và tìm tất cả các driver cần được load trong gia đoạn khởi động nhân.

Từ lúc này Windows XP bắt đầu nhiều thành phần của hệ thống và các thành phần do user cài đặt. Mỗi thành phần này đọc thông tin từ registry và thực thi nhiều công việc khác nhau.Trong giai đoạn cuối,chương trình quản lý user logon, WinLogon, bắt đầu. WinLogon cho phép người sử dụng log on và sử dụng Win Xp.

nguyenthithutrang (I11C)

Tổng số bài gửi : 33
Join date : 26/08/2011
Age : 28
Đến từ : Lâm Đồng

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 2

Bài gửi  nguyenthithutrang (I11C) on 23/3/2013, 22:04

Các Thành Phần Cơ Bản Trong Máy Tính

*Các linh kiện phần cứng cấu thành lên máy tính cá nhânCPU Bộ xử lý của máy tính cá nhân:

-Bo mạch chủ Bo mạch chính kết nối các thiết bị với nhau trong máy tính cá nhân. Một cách hiểu khác: có thể so sánh bo mạch chủ trong phần cứng giống như vai trò của hệ điều hành trong phần mềm.
-RAM Bộ nhớ tạm của máy tính dùng cho ghi lại các dữ liệu tạm thời trong một phiên làm việc của máy tính.
-Ổ đĩa cứng Bộ nhớ dữ liệu chính của máy tính cá nhân, các thành quả của một quá trình làm việc có thể được lưu trữ trên ổ đĩa cứng trước khi có các hành động sao lưu dự phòng trên các dạng bộ nhớ khác.
-Ổ đĩa quang (CD, DVD) Bộ nhớ dùng cho xuất, nhập dữ liệu với dung lượng lớn hoặc trao đổi dữ liệu, phần mềm với những máy tính khác. Sử dụng sao lưu dữ liệu và các mục đích khác. Đây không phải là thiết bị bắt buộc đối với hệ thống phần cứng máy tính cá nhân.
-Ổ đĩa mềm Bộ nhớ dùng cho xuất nhập dữ liệu với dung lượng thấp (phụ thuộc từng loại đĩa mềm). Đây không phải thiết bị bắt buộc phải có.
-Bo mạch đồ hoạ Thiết bị có chức năng xuất hình ảnh ra màn hình máy tính. Giúp người sử dụng giao tiếp với máy tính.
-Bo mạch âm thanh Thiết bị có chức năng xuất tín hiệu âm thanh ra các thiết bị phát âm thanh (loa). Đây không phải thiết bị bắt buộc phải có.
-Bo mạch mạng: Thiết bị có chức năng kết nối các máy tính với nhau thành một mạng máy tính, giúp máy tính có thể trao đổi thông tin với các máy tính khác trên phạm vi rộng (có thể đến toàn thế giới).
Đây không phải thiết bị bắt buộc phải có.
-Vỏ máy tính: Thiết bị định vị và bảo vệ các thiết bị khác.
-Nguồn máy tính: Thiết bị cung cấp năng lượng cho các thiết bị khác hoạt động.
-Màn hình máy tính: Thiết bị trợ giúp giao tiếp giữa con người và máy tính.
-Bàn phím máy tính: Thiết bị nhập dữ liệu, giao tiếp con người với máy tính
-Chuột: Thiết bị nhập dữ liệu, giao tiếp con người với máy tính.

*Các thiết bị ngoại vi thường kết nối với máy tính cá nhân:
-Modem
-Webcam
-Loa máy tính
-Máy in
-Máy quét
-Máy ảnh số
-Micro

*Nguyên lý hoạt động: Hệ điều hành hoạt động theo nguyên lý hướng đối tượng.

nguyenthithutrang (I11C)

Tổng số bài gửi : 33
Join date : 26/08/2011
Age : 28
Đến từ : Lâm Đồng

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 2

Bài gửi  Sponsored content


Sponsored content


Về Đầu Trang Go down

Trang 3 trong tổng số 5 trang Previous  1, 2, 3, 4, 5  Next

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết