Thảo luận Bài 2

Trang 1 trong tổng số 7 trang 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7  Next

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

Thảo luận Bài 2

Bài gửi  Admin on 1/8/2011, 16:04

Thảo luận những vấn đề liên quan đến Bài 2

Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 288
Join date : 18/02/2009

Xem lý lịch thành viên http://hedieuhanh.forumvi.net

Về Đầu Trang Go down

Trình bày nguyên lý lưu gần (caching) sử dụng trong máy tính. Nêu các ví dụ minh họa từ đời thường ?

Bài gửi  tranphanhieu36_i11c on 1/9/2011, 21:27

Đầu tiên mình sẽ định nghĩa cache nè :

Cache là bộ nhớ đệm của CPU,cache nằm trong CPU ngay cạnh lõi xử lý .CPU muốn đọc hay ghi một vị trí trên Ram thì trước hết nó sẽ tìm trong L1 cache xem có sẵn dữ liệu đó không nếu không nó sẽ tìm trong các bộ nhớ cache còn lại .Cache giúp giảm tình trạng thắt nút cổ chai giữa ram và cpu

Cache memory
Là loại memory có dung lượng rất nhỏ (thường nhỏ hơn 1MB) và chạy rất lẹ (gần như tốc độ của CPU). Thông thường thì Cache memory nằm gần CPU và có nhiệm vụ cung cấp những data thường (đang) dùng cho CPU. Sự hình thành của Cache là một cách nâng cao hiệu quả truy cập thông tin của máy tính mà thôi. Những thông tin bạn thường dùng (hoặc đang dùng) thường được chứa trong Cache, mổi khi xử lý hay thay đổi thông tin, CPU sẽ dò trong Cache memory trước xem có tồn tại hay không, nếu có nó sẽ lấy ra dùng lại còn không thì sẽ tìm tiếp vào RAM hoặc các bộ phận khác. Lấy một ví dụ đơn giản là nếu bạn mở Microsoft Word lên lần đầu tiên sẽ thấy hơi lâu nhưng mở lên lần thứ nhì thì lẹ hơn rất nhiều vì trong lần mở thứ nhất các lệnh (instructions) để mở Microsoft Word đã được lưu giữ trong Cache, CPU chỉ việc tìm nó và xài lại thôi.
Lý do Cache memory nhỏ là vì nó rất đắt tiền và chế tạo rất khó khăn bởi nó gần như là CPU (về cấu thành và tốc độ). Thông thường Cache memory nằm gần CPU, trong nhiều trường hợp Cache memory nằm trong con CPU luôn. Người ta gọi Cache Level 1 (L1), Cache level 2 (L2)...là do vị trí của nó gần hay xa CPU. Cache L1 gần CPU nhất, sau đó là Cache L2...

=>cache rất gần với CPU, tốc độ truy xuất rất nhanh ( nhanh hơn RAM rất nhiều) => Dỡ tốn công và thời gian truy xuất, Sẽ tăng được tốc độ truy xuất của CPU rất nhiều, thường thì CPU sẽ vào cache tìm và truy xuất nếu có trước khi vào ram và bộ nhớ ngoài truy xuất.

Ví dụ minh họa nguyên lý lưu gần từ đời thường :
Giếng nước : nếu ở trên cao nhà khá xa nguồn nước thì người ta thường bơm nước vào bể nước hoặc thùng gần nhà để mỗi khi cần sẽ lại thùng hay bề lấy cho nhanh và tiện, vừa đỡ tốn thời gian...

tranphanhieu36_i11c

Tổng số bài gửi : 31
Join date : 25/08/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 2

Bài gửi  TruongHanhPhuc (I11C) on 1/9/2011, 21:28

A.Cấu trúc máy tính :
  • Về cơ bản tất cả các hệ thống máy tính đều có các bộ phận cơ bản sau :
    - CPU : Bộ xử lý trung tâm
    - Bộ nhớ trong : ROM& RAM
    - Bộ nhớ ngoài : Backing Storage
    - Các thiết bị nhập :Input Devices
    - Các thiết bị xuất : Output Devices

    1. Bộ xử lý trung tâm - CPU:
    Đây là bộ não của máy tính , nó thực hiện hầu hết các phép toán số học và logic
    CPU được chia làm các bộ phận sau :
    a, Khối xử lý các phép toán số học và logic ( Athimetic Logic Unit ) : ALU
    - Thực hiện các phép toán số học : +, - , x , : ....
    - Thực hiện các phép toán so sánh : > , < ,≥, ≤ , #,=....
    -Thực hiện các phép toán login : and , or , xor , not ...
    b, Khối điều khiển : (Control Unit )
    Khối này có chức năng thực hiện tuần tự các phép tính :
    VD : Cho X=2, Y= 5 , X= X+Y , Y=X.Y, X=X+Y
    Theo các bạn KQ là gì ? X=42, Y=35

    2. Bộ nhớ trong - ROM/RAM :
    Được chia làm các ô nhớ hình mắt lưới .Mỗi ô nhớ có dung lượng 1 byte và được dùng để lưu trữ 1 ký tự .
    Bô nhớ trong được chia làm 2 loại như sau :
    a, Bộ nhớ chỉ đọc - ROM
    Đây là bộ nhớ được các nhà sản xuất máy tính thiết lập ra .Người sử dụng chỉ có thể sử dụng dữ liệu trong bộ nhớ này chứ không thể thay đổi được dữ liệu trong nó .Khi tắt máy hoặc mất điện dữ liệu trong ROM không bị mất đi
    VD: Bios ROM Sad Basic Input Output System Read Only Memmory ) :Bộ nhớ chỉ đọc điều khiển các thiết bị vào ra cơ bản của hệ thống máy tính .
    b,Bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên - RAM:
    Người sử dụng có thể hoàn toàn thay đổi được dữ liệu bên trong bộ nhớ này nhưng khi mất điện hoặc tắt máy dữ liệu trong RAM sẽ bị mất đi .

    3. Bộ nhớ ngoài :
    Là bộ nhớ có dung lượng rất lớn dùng để lưu trữ những dữ liệu có dung lượng lớn như các bộ cài đặt ,các phần mềm ứng dụng ,tiện ích ..vv..Người sử dụng có thể thay đổi dữ liệu bên trong bộ nhớ này nhưng khi tắt máy hoặc mất điện dữ liệu không bị mất đi .Tuy vậy bộ nhớ ngoài có tốc độ truy cập chậm hơn bộ nhớ trong nhưng giá thành lại rẻ hơn rất nhiều lần .
    VD : HDD, FDD, ODD, USB ,....

    4. Các thiết bị nhập :
    Là những thiết bị dùng để nhập dữ liệu vào máy tính .
    VD : Key , Mouse, Webcam,...

    5. Các thiết bị xuất :
    Là các thiết bị dùng để xuất dữ liệu ra ngoài sau khi đã đựợc xử lý
    VD : Màn hình, Máy in , ....

TruongHanhPhuc (I11C)

Tổng số bài gửi : 22
Join date : 25/08/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 2

Bài gửi  TruongHanhPhuc (I11C) on 1/9/2011, 21:30

B. Các thành phần của máy tính :

Máy tính được chia làm 3 thành phần cơ bản sau :

- Hardware

- Software

- Firmware

a. Hardware :
Đây là phần thiết bị vật lý cấu thành nên máy tính.
VD: CPU, Mainboard, RAM....

b. Software:

Là phần mềm do trí tuệ con người tạo ra nhằm phục vụ cho mục đích sử dụng của con người

Nó bao gồm :

-Appication Software : Phần mềm ứng dụng : Là phần mềm phục vụ cho một mục đích chuyên biệt nào đó VD: Word ,Execl....

-Utility Software: Phần mềm tiện ích: Là phần mềm mang lại lợi ích cho người sử dụng trong việc quản lý hệ thống máy tính như việc quản lý ổ đĩa , thư mục , file ...VD .NC, NU , Norton Ghost ....

-Hệ điều hành: Operating System :

Là phần mềm để khởi động máy tính ,kết nối các thiết bị ngoại vi và còn là môi trường để các phần mềm khác chạy trong nó

-Các ngôn ngữ lập trình : Progamming langueges :

Đây là những phần mềm để tạo ra những phần mềm kể trên , có 2 loại ngôn ngữ lập trình

+ Low level langueges : Ngôn ngữ lập trình bậc thấp

+ High Level : Ngôn ngữ lập trình bậc cao

c. Firmware :

Là phần để kết nối giữa phần cứng và phần mềm . VD CMOS

TruongHanhPhuc (I11C)

Tổng số bài gửi : 22
Join date : 25/08/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 2

Bài gửi  NguyenTienPhong083 (I11C) on 1/9/2011, 21:32

Máy tính bao gồm những phần :
1. Theo nguyên tắc hoạt động.
Máy tính bao gồm 4 thành phần:
- thiết bị nhập (Input device): bao gồm các thiết bị dùng để nhập thông tin vào máy tính (chuột, bàn phím, máy scan, máy ảnh kỹ thuật số, … )
- bộ xử lý trung tâm (Central Processing Unit): là một con chip điện tử hoạt động như bộ não con gnười, dùng để điều khiển mọi hoạt động của máy tính.
- bộ nhớ (Memory): có chức năng lưu trữ dữ liệu. Có hai bộ nhớ là bộ nhớ trong (RAM, ROM) và bộ nhớ ngoài (đĩa cứng, đĩa mềm, đĩa CD, …)
- thiết bị xuất: bao gồm các thiết bị dùng để xuất thông tin sau khi xử lý (màn hình, loa, máy in, …).
- các thành phần liên kết hệ thống ( Bus System )
2. Theo tính chất vật lý.
Máy tính bao gồm hai phần là phần cứng và phần mềm (Hardware & Software).
- phần cứng: là tất cả các thiết bị, linh kiện cấu tạo nên máy tính (CPU, chuột, bàn phím, màn hình, …).
- phần mềm: là các dữ liệu, chương trình được cài trên máy tính giúp điều khiển máy tính hoạt động (hệ điều hành, Phần mềm xử lý văn bản, phần mầm xử lý hình ảnh, Phần mầm lập trình, một tập tin văn bản, … ).


Nguyên lý hoạt động của máy tinh

Muốn máy tính làm một việc gì đó con người phải đưa vào máy tính một hay nhiều lệnh thông qua các thiết bị nhập.
Khi một lệnh được nhận từ các thiết bị nhập, lệnh này lập tức được truyền vào CPU (bộ xử lý trung tâm - Central Processing Unit ). CPU phải phân tích lệnh và tìm kiếm trong bộ nhớ, trong những thiết bị lưu trữ, những công cụ và phương thức để thực hiện các lệnh đó. Nếu tìm thấy thì thực hiện lệnh và trả kết qủa về thông qua bộ phấn xuất. Nếu không tìm thấy thì sẽ trả về thông tin báo lỗi.

NguyenTienPhong083 (I11C)

Tổng số bài gửi : 37
Join date : 26/08/2011
Age : 28

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI NGẮT

Bài gửi  TruongHanhPhuc (I11C) on 1/9/2011, 21:45

  1/ Khái niệm :
Mỗi khi một thiết bị phần cứng hay một chương trình cần đến sự giúp đỡ của CPU nó gửi đi một tín hiệu hoặc lệnh gọi là ngắt đến bộ vi xử lý chỉ định một công việc cụ thể nào đó mà nó cần CPU thực hiện .Khi bộ vi xử lý nhận được tín hiệu ngắt nó thường tạm ngưng tất cả các hoạt động khác và kích hoạt một chương trình con đang có trong bộ nhớ gọi là chương trình xử lý ngắt tương ứng với từng số liệu ngắt cụ thể .Sau khi chương trình xử lý ngắt làm xong nhiệm vụ, các hoạt động của máy tính sẽ tiếp tục lại từ nơi đã bị tạm dừng lúc xảy ra ngắt .
Ngắt (interrupt) là khả năng tạm dừng chương trình chính dể thực hiện chương trình khác gọi là chương trình con xử lý ngắt.
Ngắt có hai phần : hiệu số ngắt và chức năng ngắt. Hiệu số ngắt được gọi tắt là ngắt (như ngắt 10h , 20h ,21h) mỗi ngắt có nhiều chức ngăn khác nhau do thanh ghi AH quy định.

 2/ Phân loại ngắt :
Có ba loại ngắt chính, đầu tiên là các ngắt được tạo ra bởi mạch điện của máy tính nhằm đáp lại một sự kiện nào đó như nhấn phím trên bàn phím ..Các ngắt này được bộ điều khiển ngắt 8259A quản lý , 8259A sẽ ấn định mức độ ưu tiên cho từng ngắt rồi gửi đến CPU .
Sau đó là các ngắt do CPU tạo ra khi gặp phải một kết quả bất thường trong khi thực hiện chương trình như chia cho 0 chẳng hạn ..
Cuối cùng là các ngắt do chính chương trình tạo ra nhằm gọi các chương trình con ở xa đang nằm trong ROM hoặc RAM, các ngắt này gọi là ngắt mềm chúng thường là bộ phận của các chương trình con phục vụ của ROM-BIOS hoặc của DOS.
  Ngoài ba loại ngắt trên còn có loại ngắt đặc biệt là ngắt không bị che NMI đòi hỏi CPU phục vụ ngay khi có yêu cầu. Loại ngắt này thường được dùng để báo hiệu sự cố như sụt điệp áp hay lỗi bộ nhớ . Như vậy NMI là mức ngắt có độ ưu tiên cao nhất .
 Các ngắt trong PC có thể chia thành 7 nhóm như sau :
  - Các ngắt vi xử lý :Thường gọi là các ngắt logic được thiết kế sẵn trong bộ VXL Bốn trong số các ngắt này (0,1,3,4 ) do chính bộ VXL tạo ra còn ngắt 2 (NMI ) sẽ được kích hoạt khi có tín hiệu tạo ra bởi một trong các thiết bị ngoài.
  - Các ngắt cứng : Ðược thiết kế sẵn trong phần cứng của của PC ,tám ngắt trong số các ngắt này (2,8,9,từ Bh đến Fh ) được gắn chết vào trong bộ VXL hoặc vào bảng mạch chính của hệ thống .Tất cả các ngắt cứng đều do 8259A điều khiển .
  - Các ngắt mềm: Những ngắt này là một phần của các chương trình ROM -BIOS ,các số hiệu dành cho các ngắt của ROM- BIOS là 5 ,từ 10h đến 1C hex và 48h .
  Ngoài ra còn có các ngắt DOS và ngắt BASIC phục vụ hệ điều hành DOS và chương trình BASIC .
- Các ngắt địa chỉ :Các số hiệu dành cho các ngắt này là từ 1Dhex đến 1Fhex . Ba trong số các ngắt này trỏ đến ba bảng rất quan trọngđó là bảng khởi tạo màn hình ,bảng cơ sở đĩa và bảng các ký tự đồ thị .Các bảng này chứa các tham số được ROM BIOS dùng khi khởi động hệthống và tạo các ký.
Nếu cùng một thời điểm có nhiều lệnh ngắt thuộc các ngắt khác nhau đòi hỏi CPU cùng xử lý thì CPU sẽ xử lý ngắt theo thứ tự ưu tiên vơi nguyên tắc ngắt nào có mức ưu tiên cao hơn sẽ được CPU nhận biết và phục vụ trước.

TruongHanhPhuc (I11C)

Tổng số bài gửi : 22
Join date : 25/08/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Tiến trình đầu tiên trong Windows

Bài gửi  TranMinh (I11C) on 1/9/2011, 22:16

Như thầy đã giảng trên lớp tiếng trình đầu tiên trong linux là INIT . Tiến trình đầu tiên của windowns là BIOS .
BIOS ở đây là viết tắt của cụm từ tiếng Anh (Basic Input/Output System) có nghĩa là Hệ thống xuất nhập cơ bản. BIOS nằm bên trong máy tính cá nhân, trên bo mạch chính. BIOS được xem như là chương trình được chạy đầu tiên khi máy tính khởi động. Chức năng chính của BIOS là chuẩn bị cho máy tính để các chương trình phần mềm được lưu trữ trên các thiết bị lưu trữ (chẳng hạn như ổ cứng, đĩa mềm và đĩa CD) có thể được nạp, thực thi và điều khiển máy tính. Quá trình này gọi là khởi động.

Thuật ngữ này xuất hiện lần đầu trong hệ điều hành CP/M, là phần CP/M được tải lên trong suốt quá trình khởi động, tương tác trực tiếp với phần cứng (các máy CP/M thường có duy nhất một trình khởi động trong ROM). Các phiên bản nổi tiếng của DOS có một tập tin gọi là "IBMBIO.COM" hay "IO.SYS" có chứng năng giống như BIOS CP/M.

Tuy nhiên, thuật ngữ BIOS ngày nay chỉ một chương trình phần mềm khác được chứa trong các chip có sẵn trên bản mạch chính như PROM, EPROM và nó nắm giữ các chức năng chuẩn bị cho máy đồng thời tìm ra ổ nhớ cũng như liên lạc và giao sự điều hành máy lại cho hệ điều hành.

BIOS cũng là bộ phận chuẩn của máy tính. Một máy tính có thể thiếu màn hình, bàn phím, chuột, ổ cứng, ... nhưng không thể thiếu BIOS.
Cách vận hành của BIOS
BIOS được chứa sẵn (thường ở dạng nén dữ liệu) trong các con chip như là PROM, EPROM hay bộ nhớ flash của bo mạch chính. Khi máy tính được mở qua công tắc bật điện hay khi được nhất nút reset, thì BIOS được khởi động và chương trình này sẽ tiến hành các thử nghiệm khám nghiệm trên các ổ đĩa, bộ nhớ, bo hình, các con chip có chức năng riêng khác và các phần cứng còn lại.

Thông thường, BIOS tự giải nén vào trong bộ nhớ chính của máy tính và bắt đầu vận hành từ đây. Hầu hết các lắp đặt của BIOS ngày nay có thể thực thi cài đặt các chương trình giao diện CMOS. Bộ phận này (CMOS) là nơi lưu giữ các dữ liệu cài đặt chuyên biệt của người dùng; như thời gian, các đặc tính chi tiết của ổ đĩa, việc gán chức năng khởi động cho bộ điều khiển (controller) nào, hay ngay cả mật mã khởi động máy, ... CMOS được truy cập bởi BIOS.

Đối với hệ kiến trúc 80x86, mã nguồn BIOS của các máy PC và AT thời kỳ đầu đã có kèm Bản tham chiếu kĩ thuật IBM.

Trong hầu hết các lắp đặt của BIOS ngày nay, người dùng có thể lựa chọn thiết bị nào được khởi động trước: CD, đĩa cứng, đĩa mềm, ổ USB, hay các thiết bị lưu trữ tương thích. Thủ tục này đặc biệt hữu ích cho việc cài đặt các hệ điều hành hay khởi động từ CD/DVD khởi động được hay ổ USB khởi động được và cho việc lựa chọn thứ tự của việc kiểm tra sự hiện hữu của các vật liệu (media) khởi động được.
(Theo wikipedia ).
Ở đầy có 1 tiến trình nữa trong windowns mà có thế các bạn có nghe đến là POST (Power-On Self Test) , Trong BIOS của kiến trúc máy tính PC, chức năng tự kiểm tra khi nguồn bật hay POST, viết tắt của chữ tiếng Anh Power-On Self Test, là việc đầu tiên BIOS làm khi nó khởi động máy tính.
POST được xây dựng sẵn là một chương trình máy tính để kiểm tra phần cứng, đảm bảo mọi thứ sẵn có và đảm bảo chức năng của mình, trước khi BIOS bắt đầu khởi động. POST chạy nhanh và thông thường không thông báo kết quả kiểm tra, ngoại trừ trường hợp nó gặp vấn đề. Nếu POST gặp phải trục trặc, khi bật máy, máy sẽ phát ra tiếng bíp và sau đó dừng, không tiếp tục khởi động. Loa được sử dụng vì kiểm tra này được thực hiện trước khi màn hình nhận tín hiệu. Những mẫu tiếng bíp được sử dụng để chẩn đoán các vấn đề phần cứng của máy tính. Các mẫu này phụ thuộc nhà sản xuất BIOS, ví dụ Award hay AMI BIOSes.

Một số lỗi POST được coi là lỗi không sửa được, một số khác thì vẫn sửa được. Lỗi không sửa được (fatal) sẽ ngắt quá trình khởi động ngay lập tức (ví dụ không tìm thấy bộ nhớ hệ thống). Thực tế, hầu như lỗi khởi động POST là lỗi không sửa được.

POST còn được sử dụng trong việc phát hiện các sự cố mở rộng cho PC. Các tín hiệu BIOS gửi ra khi gặp các vấn đề mở rộng có thể được dùng để "gỡ rối vấn đề" bằng giao tiếp gỡ rối. Giao tiếp này đặt tai khe ISA và chấp nhận mã gỡ rối do BIOS gửi tới địa chỉ vào/ra đặc biệt, sử dụng là 80h. Giao tiếp hiển thị những mã này và nơi POST dừng nếu nó tìm ra vấn đề. Giao tiếp này thường được thiết kế chỉ dành cho người sửa chữa PC bị lỗi nghiêm trọng hoặc một số người làm nhiều về hệ thống máy tính.(theo wikipedia ) .
Nếu tiến trình POST không thành công PC sẽ không khởi động được và xuất hiện thông báo lỗi . Khi tiến trình POST thành công có 3 đặc điểm sau :
-Nghe 1 tiếng beep phát ra từ loa hệ thống

- Hoặc nhấn kiểm tra các phím NumLock hoặc ScrollLock hoặc CapsLock trên bàn phím

- Hoặc nhìn thấy chữ/ các tín hiệu khác xuất hiện trên màn hình

Chỉ cần có dấu hiệu của 1 trong 3 yếu tố trên là POST thành công.
Vì vậy theo mình thì POST là tiến trình đâu tiên trong Windowns ở thời điểm hiện tại .


Được sửa bởi TranMinh (I11C) ngày 4/9/2011, 17:03; sửa lần 2.

TranMinh (I11C)

Tổng số bài gửi : 19
Join date : 25/08/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

bổ sung cache

Bài gửi  nguyenvulinh_i11c on 1/9/2011, 22:20

Thuật ngữ L1 cache, L2 cache là tên gọi của vùng nhớ đệm – nơi lưu trữ các dữ liệu nằm chờ các ứng dụng hay phần cứng xử lý. Mục đích của nó là để tăng tốc độ xử lý, nó giống như một trạm trung chuyển hay cảng tập kết hàng hoá.
Nói một cách bài bản, cache là một cơ chế lưu trữ tốc độ cao đặc biệt. Nó có thể là một vùng lưu trữ của bộ nhớ chính hay một thiết bị lưu trữ tốc độ cao độc lập.Có hai dạng lưu trữ cache được dùng phổ biến trong máy tính cá nhân là memory caching (bộ nhớ cache hay bộ nhớ truy xuất nhanh) và disk caching (bộ nhớ đệm đĩa).

* Memory cache: Đây là một khu vực bộ nhớ được tạo bằng bộ nhớ tĩnh (SRAM) có tốc độ cao nhưng đắt tiền thay vì bộ nhớ động (DRAM) có tốc độ thấp hơn và rẻ hơn, được dùng cho bộ nhớ chính. Cơ chế lưu trữ bộ nhớ cahce này rất có hiệu quả. Bởi lẽ, hầu hết các chương trình thực tế truy xuất lặp đi lặp lại cùng một dữ liệu hay các lệnh y chang nhau. Nhờ lưu trữ các thông tin này trong SRAM, máy tính sẽ khỏi phải truy xuất vào DRAM vốn chậm chạp hơn.Một số bộ nhớ cache được tích hợp vào trong kiến trúc của các bộ vi xử lý. Chẳng hạn, CPU Intel đời 80486 có bộ nhớ cache 8 KB, trong khi lên đời Pentium là 16 KB. Các bộ nhớ cache nội (internal cache) như thế gọi là Level 1 (L1) Cache (bộ nhớ đệm cấp 1). Các máy tính hiện đại hơn thì có thêm bộ nhớ cache ngoại (external cache) gọi là Level 2 (L2) Cache (bộ nhớ đệm cấp 2). Các cache này nằm giữa CPU và bộ nhớ hệ thống DRAM. Sau này, do nhu cầu xử lý nặng hơn và với tốc độ nhanh hơn, các máy chủ (server), máy trạm (workstation) và mới đây là CPU Pentium 4 Extreme Edition được tăng cường thêm bộ nhớ đệm L3 Cache.

* Disk cache: Bộ nhớ đệm đĩa cũng hoạt động cùng nguyên tắc với bộ nhớ cache, nhưng thay vì dùng SRAM tốc độ cao, nó lại sử dụng ngay bộ nhớ chính. Các dữ liệu được truy xuất gần đây nhất từ đĩa cứng sẽ được lưu trữ trong một buffer (phần đệm) của bộ nhớ. Khi chương trình nào cần truy xuất dữ liệu từ ổ đĩa, nó sẽ kiểm tra trước tiên trong bộ nhớ đệm đĩa xem dữ liệu mình cần đang có sẵn không. Cơ chế bộ nhớ đệm đĩa này có công dụng cải thiện một cách đáng ngạc nhiên sức mạnh và tốc độ của hệ thống. Bởi lẽ, việc truy xuất 1 byte dữ liệu trong bộ nhớ RAM có thể nhanh hơn hàng ngàn lần nếu truy xuất từ một ổ đĩa cứng. Sẵn đây, xin nói thêm, người ta dùng thuật ngữ cache hit để chỉ việc dữ liệu được tìm thấy trong cache. Và hiệu năng của một cache được tính bằng hit rate (tốc độ tìm thấy dữ liệu trong cache). Trở lại chuyện bộ nhớ cache. Hồi thời Pentium đổ về trước, bộ nhớ cache nằm trên mainboard và một số mainboard có chừa sẵn socket để người dùng có thể gắn thêm cache khi có nhu cầu. Tới thế hệ Pentium II, Intel phát triển được công nghệ đưa bộ nhớ cache vào khối CPU. Nhờ nằm chung như vậy, tốc độ truy xuất cache tăng lên rõ rệt so với khi nó nằm trên mainboard. Nhưng do L2 Cache vẫn phải ở ngoài nhân CPU nên Intel phải chế ra một bo mạch gắn cả nhân CPU lẫn L2 Cache. Và thế là CPU có hình dạng to đùng như một cái hộp (gọi là cartridge) và được gắn vào mainboard qua giao diện slot (khe cắm), Slot 1. Tốc độ truy xuất cache lúc đó chỉ bằng phân nửa tốc độ CPU. Thí dụ, CPU 266 MHz chỉ có tốc độ L2 Cache là 133 MHz. Sang Pentium III cũng vậy. Mãi cho tới thế hệ Pentium III Coppermine (công nghệ 0.18-micron), Intel mới thành công trong việc tích hợp ngay L2 Cache vào nhân chip (gọi là on-die cache). Lúc đó, tốc độ L2 Cache bằng với tốc độ CPU và con CPU được thu gọn lại, đóng gói với giao diện Socket 370.

Như đã nói, dung lượng của Cache CPU rất quan trọng. Phổ biến nhất là L2 Cache là một chip nhớ nằm giữa L1 Cache ngay trên nhân CPU và bộ nhớ hệ thống. Khi CPU xử lý, L1 Cache sẽ tiến hành kiểm tra L2 Cache xem có dữ liệu mình cần không trước khi truy cập vào bộ nhớ hệ thống. Vì thế, bộ nhớ đệm càng lớn, CPU càng xử lý nhanh hơn. Đó là lý do mà Intel bên cạnh việc tăng xung nhịp cho nhân chíp, còn chú ý tới việc tăng dung lượng bộ nhớ Cache. Do giá rất đắt, nên dung lượng Cache không thể tăng ồ ạt được. Bộ nhớ cache chính L1 Cache vẫn chỉ ở mức từ 8 tới 32 KB. Trong khi, L2 Cache thì được đẩy lên dần tới hiện nay cao nhất là Pentium M Dothan 2 MB (cho máy tính xách tay) và Pentium 4 Prescott 1 MB (máy để bàn). Riêng dòng CPU dành cho dân chơi game và dân multimedia “prồ” là Pentium 4 Extreme Edition còn được bổ sung L3 Cache với dung lượng 2 MB. Đây cũng là CPU để bàn có tổng bộ nhớ cache lớn nhất (L1: 8 KB, L2: 512 KB, L3: 2 MB).

nguyenvulinh_i11c

Tổng số bài gửi : 24
Join date : 28/08/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 2

Bài gửi  NgoDucTuan (I11C) on 1/9/2011, 22:29

tranphanhieu36_i11c đã viết:Đầu tiên mình sẽ định nghĩa cache nè :

Cache là bộ nhớ đệm của CPU,cache nằm trong CPU ngay cạnh lõi xử lý .CPU muốn đọc hay ghi một vị trí trên Ram thì trước hết nó sẽ tìm trong L1 cache xem có sẵn dữ liệu đó không nếu không nó sẽ tìm trong các bộ nhớ cache còn lại .Cache giúp giảm tình trạng thắt nút cổ chai giữa ram và cpu

Cache memory
Là loại memory có dung lượng rất nhỏ (thường nhỏ hơn 1MB) và chạy rất lẹ (gần như tốc độ của CPU). Thông thường thì Cache memory nằm gần CPU và có nhiệm vụ cung cấp những data thường (đang) dùng cho CPU. Sự hình thành của Cache là một cách nâng cao hiệu quả truy cập thông tin của máy tính mà thôi. Những thông tin bạn thường dùng (hoặc đang dùng) thường được chứa trong Cache, mổi khi xử lý hay thay đổi thông tin, CPU sẽ dò trong Cache memory trước xem có tồn tại hay không, nếu có nó sẽ lấy ra dùng lại còn không thì sẽ tìm tiếp vào RAM hoặc các bộ phận khác. Lấy một ví dụ đơn giản là nếu bạn mở Microsoft Word lên lần đầu tiên sẽ thấy hơi lâu nhưng mở lên lần thứ nhì thì lẹ hơn rất nhiều vì trong lần mở thứ nhất các lệnh (instructions) để mở Microsoft Word đã được lưu giữ trong Cache, CPU chỉ việc tìm nó và xài lại thôi.
Lý do Cache memory nhỏ là vì nó rất đắt tiền và chế tạo rất khó khăn bởi nó gần như là CPU (về cấu thành và tốc độ). Thông thường Cache memory nằm gần CPU, trong nhiều trường hợp Cache memory nằm trong con CPU luôn. Người ta gọi Cache Level 1 (L1), Cache level 2 (L2)...là do vị trí của nó gần hay xa CPU. Cache L1 gần CPU nhất, sau đó là Cache L2...

=>cache rất gần với CPU, tốc độ truy xuất rất nhanh ( nhanh hơn RAM rất nhiều) => Dỡ tốn công và thời gian truy xuất, Sẽ tăng được tốc độ truy xuất của CPU rất nhiều, thường thì CPU sẽ vào cache tìm và truy xuất nếu có trước khi vào ram và bộ nhớ ngoài truy xuất.

Ví dụ minh họa nguyên lý lưu gần từ đời thường :
Giếng nước : nếu ở trên cao nhà khá xa nguồn nước thì người ta thường bơm nước vào bể nước hoặc thùng gần nhà để mỗi khi cần sẽ lại thùng hay bề lấy cho nhanh và tiện, vừa đỡ tốn thời gian...
avatar
NgoDucTuan (I11C)

Tổng số bài gửi : 52
Join date : 31/08/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Các Lỗi Chính Làm Treo Máy Tính Của Bạn Tham Khảo

Bài gửi  TranVanDucHieu I11c on 1/9/2011, 22:39

"Màn hình xanh chết chóc" (Blue Screen of Death) thông báo máy tính đang gặp lỗi nghiêm trọng khiến máy tính tắt hoặc không khởi động được. Dưới đây là 10 nguyên nhân phổ biến nhất của nó.
Xung đột phần cứng

Lý do số một khiến máy tính “chết cứng” là xung đột phần cứng. Các thiết bị phần cứng liên lạc với thiết bị khác qua một IRQ (interrupt request channel – kênh nối thiết bị ngoại vi). Mỗi thiết bị có IRQ riêng và là duy nhất.

Ví dụ, máy tính thường kết nối nội bộ trên IRQ 7, bàn phím thường dùng IRQ 1 và ổ đĩa mềm là IRQ 6. Nếu máy tính có nhiều thiết bị hoặc cài đặt không đúng, có thể sẽ dẫn đến tình trạng hai thiết bị có chung một IRQ. Khi cả hai thiết bị này sử dụng cùng thời điểm sẽ dẫn đến “treo” máy tính.

Để phát hiện xem có xung đột thiết bị không, vào Start, chọn Settings, Control Panel, System. Trong thẻ Hardware, chọn Device Manager. Các thiết bị có vấn đề có biểu tượng “!” màu vàng xuất hiện ở bên phần mô tả của Device Manager. Nếu phát hiện có hai thiết bị dùng chung một IRQ, cách tốt nhất là cài lại thiết bị.

Máy tính trước đây chỉ có 8 số IRQ, hiện nay có 16 IRQ. Trong bối cảnh nhiều thiết bị gắn kèm máy tính hiện nay rất dễ thiếu IRQ.
Lỗi RAM

Các trục trặc RAM (bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên) có thể làm treo máy tính, màn hình xanh xuất hiện với thông điệp báo lỗi nghiêm trọng (Fatal Error). Lỗi này có thể là do RAM không khớp tốc độ xử lý. Ví dụ như gắn RAM 70 ns (phần tỷ giây) với RAM 60 ns sẽ khiến máy tính vận hành tất cả các RAM ở tốc độ thấp hơn. Điều này sẽ khiến máy tính treo nếu RAM bị quá tải.

Vấn đề này có thể giải quyết bằng cách vào chế độ BIOS và tăng trạng thái chờ của RAM. Như vậy có thể làm cho RAM hoạt động ổn định hơn.
Các thiết lập BIOS

Mỗi bo mạch chủ đều có một loạt thiết lập xử lý do nhà sản xuất quyết định. Cách phổ thông nhất để tiếp cận các thiết lập xử lý này, được gọi là BIOS là nhấn F2 hoặc nút Delete trong khi máy tính bắt đầu khởi động ở những giây đầu tiên.

Một khi vào BIOS, cần cẩn thận trong mọi thay đổi. Tốt nhất là viết ra giấy tất cả những thiết lập hiện trên màn hình. Bằng cách đó, nếu bạn thay đổi cái gì đó khiến máy tính trở nên bất ổn, bạn sẽ biết được đó là do thay đổi nào trong BIOS gây ra.

Lỗi BIOS phổ biến nhất là CAS latency (thời gian trễ trong quá trình gửi yêu cầu tới bộ nhớ và bộ nhớ xử lý yêu cầu đó). Lỗi này liên quan chính đến RAM. Các RAM cũ trước đây có độ trễ CAS latency là 3. Các RAM mới hiện có độ trễ CAS latency là 2. Thiết lập con số này không đúng có thể khiến RAM không xử lý được, làm treo máy.
Ổ cứng

Sau vài tuần sử dụng, thông tin trên ổ cứng máy tính bắt đầu phân mảnh, các dữ liệu nằm rải rác khắp ổ. Quá nhiều dữ liệu nằm rải rác trên ổ cứng có thể khiến ổ truy lục dữ liệu lâu hơn, thậm chí dẫn đến treo máy tính. Vì thế để ổ cứng đỡ phân mảnh, hàng tuần hoặc tối thiểu là hàng tháng nên dồn ổ một lần để sắp xếp dữ liệu trong ổ cứng gọn gàng.

Để dồn ổ, vào Start -> Programs ->Accessories -> System Tools -> Disk Defragmenter. Nên nhớ là khi đang dồn ổ cứng thì không thể lưu được dữ liệu. Vì thế tốt nhất là nên dồn ổ vào những lúc không dùng máy tính.

Ổ cứng có thể chậm hoặc “chết cứng” nếu quá đầy dữ liệu. Vì thế, nên thường xuyên dọn dẹp ổ cứng để giải phóng bỏ những dữ liệu không cần thiết, như các dữ liệu tạm thời (Temporary Internet Files). Để xóa các dữ liệu tạm thời không cần thiết, vào thư mục Windows trong ổ đĩa C (ổ cài hệ điều hành Windows), tìm thư mục Temporary Internet Files, xóa bỏ tất cả các file trong thư mục đó. Ngoài ra, hàng tuần nên xóa bỏ thùng rác Recyle Bin.

Ổ cứng cũng nên được quét lỗi thường hàng tuần. Để quét lỗi ổ cứng, vào Start -> Programs -> Accessories -> System Tools -> ScanDisk. Việc quét lỗi ổ cứng khá mất thời gian nên thực hiện việc này vào giờ nghỉ, khi không dùng máy tính.
Lỗi “fatal OE exception errors” và “VXD errors”

Lỗi “Fatal OE exception errors” và “VXD errors” thường là do trục trặc video card. Các lỗi này có thể giải quyết dễ dàng bằng cách giảm độ phân giải video. Có thể làm bằng cách vào Start -> Settings -> Control Panel -> Display -> Settings. Ở cửa sổ hiện lên, nên kéo thanh trượt độ trong mục độ phân giải màn hình (screen resolution) sang bên trái. Sau đó nhìn vào ô thiết lập màu (colour settings) ở bên trái cửa sổ, với hầu hết máy tính để bàn, chế độ màu 16 bit là đủ.

Nếu làm vậy mà vẫn chưa xử lý được lỗi trên, có thể là do video card xung đột phần cứng. Để xử lý, vào Start -> Settings -> Control Panel -> System -> Hardware -> Device Manager. Trong Device Manager, nhấn trỏ chuột vào dấu + bên cạnh thẻ Display Adapter sẽ xuất hiện dòng chữ miêu tả video card.

Nhấn phải chuột vào dòng chữ đó, chọn Properties. Trong mục Resources, nếu bình thường sẽ có chữ “no conflicts” ở ô danh sách thiết bị xung đột phía dưới. Nếu có xung đột video card sẽ thấy ngay. Cách để xử lý xung đột là bỏ dấu kiểm ở ô Use Automatic Settings, chọn nút Change Settings. Bạn cần tìm thiết lập đến khi nào hiển thị thông báo No Conflicts là được.
Virus

Chống virus đòi hỏi sự đề phòng liên tục. Tốt nhất là sử dụng phần mềm diệt virus tốt như Norton AntiVirus và phải cập nhật thường xuyên. Ngoài ra, trong quá trình sử dụng cần cẩn trọng với những email không có nguồn gốc, nhất là mở những đính kèm email đáng ngờ.
Máy in

Khi in những ký tự khác thường chưa được nhận diện, có thể làm treo máy tính. Đôi khi máy in không chạy bình thường sau khi máy tính treo do rối loạn bộ nhớ đệm. Cách tốt nhất để làm bộ nhớ đệm bình thường trở lại là tắt máy in khoảng 10 giây. Khởi động máy in trong trạng thái không điện, còn gọi là khởi động nguội, sẽ khôi phục các thiết lập mặc định của máy tính. Sau đó có thể dùng máy in bình thường trở lại.

Hoạt động gửi tài liệu đến máy in sẽ tạo ra file lớn hơn, thường được gọi là postscript file. Trong khi đó máy in chỉ có một lượng bộ nhớ nhỏ gọi là buffer (bộ nhớ đệm), vì vậy rất dễ dẫn đến tình trạng quá tải. In tài liệu cũng sử dụng đáng kể sức mạnh bộ vi xử lý (CPU). Điều này cũng sẽ khiến làm chậm hiệu suất của máy tính.
Phần mềm

Một trong những nguyên khiến máy tính treo phổ biến là phần mềm cài không đúng hoặc lỗi. Thường thì vấn đề này có thể xử lý bằng cách tháo phần mềm đó ra và cài lại. Tháo cài phần mềm bằng cách vào Start -> Settings -> Control Panel -> Add/Remove Programs, sau đó chọn chương trình trong danh sách, chọn nút Remove.
CPU quá nóng

Bộ vi xử lý trung tâm (CPU) thường được gắn quạt để làm mát. Nếu quạt hỏng hoặc nếu CPU quá cũ sinh nhiệt quá nóng sẽ phát sinh lỗi gọi là kernel error. Đây là lỗi phổ biến trong CPU được ép sung để chạy ở tốc độ lớn hơn thiết kế của nhà sản xuất. Giải pháp duy nhất là sắm quạt chip to hơn thay quạt cũ.
Nguồn điện có vấn đề

Sốc điện (điện áp tăng đột ngột) hoặc nguồn điện không ổn định có thể khiến máy tính bị trục trặc. Giải pháp cho vấn đề là sắm một thiết bị ổn áp (UPS). Không chỉ giúp ổn định nguồn điện, mà UPS còn cung cấp điện thêm vài phút (khoảng 10-15 phút) tùy loại trong trường hợp mất điện lưới.

(bài này mình sưu tầm được.)

TranVanDucHieu I11c

Tổng số bài gửi : 12
Join date : 25/08/2011
Age : 28

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Tìm hiểu bad sector? hướng xử lý

Bài gửi  TranVanDucHieu I11c on 1/9/2011, 22:55

cách nhận biết bad sector ?
1. Trong lúc đang cài đặt Windows hệ thống bị treo mà không hề xuất hiện một thông báo lỗi nào (đĩa cài đặt Windows vẫn còn tốt), mặc dù vẫn có thể dùng Partition Magic phân vùng cho HDD một cách bình thường.

2. Không Fdisk được: Khi Fdisk báo lỗi No fixed disk present (đĩa cứng hiện tại không thể phân chia) hoặc Fdisk được nhưng rất có thể máy sẽ bị treo trong quá trình Fdisk.

3. Không format được HDD: Khi tiến hành format đĩa cứng máy báo lỗi Bad Track 0 - Disk Unsable.

4. Khi đang format thì máy báo Trying to recover allocation uint ***x. Lúc này máy báo cho ta biết cluster ***x bị hư và nó đang cố gắng phục hồi lại cluster đó, nhưng thông thường cái ta nhận được là một bad sector!

5. Đang chạy bất kỳ ứng dụng nào, nhận được một câu thông báo như Error reading data on driver C:, Retry, Abort, Ignore, Fail? Hoặc Sector not found on driver C:, Retry, Abort, Ignore, Fail? Hoặc A serious error occur when reading driver C:, Retry or Abort ?.

6. Khi chạy Scandisk hay NDD (Norton Disk Doctor) hay bất kỳ phần mềm kiểm tra bề mặt đĩa (surface scan) nào, ta sẽ gặp rất nhiều bad sector.

CÁCH KHẮC PHỤC:

- Cách 1: Dùng Partition Magic cắt bỏ chổ bad.

Thực hiện như sau:

Đầu tiên dùng chương trình NDD, khởi động hệ thống từ đĩa Hiren’s Boot, ở menu của chương trình chọn mục 6. Hard Disk Tools, chọn tiếp 6. Norton Utilities, chọn 1. Norton Disk Doctor.

Sau khi dùng NDD xác định được vị trí bị bad trên HDD, tiến hành chạy chương trình Partion Magic cắt bỏ phần bị bad.

Ví dụ: Khoảng bị bad từ 6.3 GB đến 6.6 GB, bạn chia lại partition, chọn partition C đến 6 GB, partition D bắt đầu từ 7 GB, cứ như thế bạn tiến hành loại bỏ hết hẳn phần bị bad (đừng hà tiện!). Cách này thủ công nhưng sử dụng rất hiệu quả, tuy nhiên nó chỉ khắc phục khi đĩa cứng của bạn có số lượng bad thấp.

- Cách 2: Dùng chương trình HDD Regenerator:

Thông thường nhà sản xuất luôn để dự phòng một số sector trên mỗi track hoặc cylinder, và thực chất kích thước thực của sector vẫn lớn hơn 512 bytes rất nhiều (tùy loại và hãng đĩa). Như thế nếu như số sector bị bad ít hơn số dự phòng còn tốt thì lúc này có thể HDD Regenerator sẽ lấy những sector dự phòng còn tốt đắp qua thay cho sector bị hư, như vậy bề mặt đĩa sẽ trở nên “sạch” hơn và tốt trở lại. Dĩ nhiên nếu lượng bad sector nhiều hơn sector dự phòng thì ổ cứng sẽ còn một ít bad. Bạn có thể quay lại cách 1.

Cách thực hiện: Khởi động hệ thống từ đĩa Hiren’s Boot. Cửa sổ đầu tiên xuất hiện, chọn 6. Hard Disk Tools, chọn tiếp 2. HDD Regenerator, bấm phím bất kỳ để xác nhận. Kế đến ở dòng Starting sector (leave 0 to scan from the beginning) gõ vào dung lượng lớn nhất hiện có của HDD, gõ xong bấm Enter để chương trình thực hiện. Thời gian chờ, tùy thuộc vào dung lượng đĩa và số lượng bad.....



TranVanDucHieu I11c

Tổng số bài gửi : 12
Join date : 25/08/2011
Age : 28

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 2

Bài gửi  NguyenTienPhong083 (I11C) on 1/9/2011, 23:51

Trình bày nguyên lý lưu gần (caching) sử dụng trong máy tính
Là nguyên tắc quan trọng của hệ thống máy tính.
- Thông tin từ RAM có thể được cơ chế phần cứng đưa vào bộ nhớ nhanh hơn gọi là Cache. Khi CPU cần chính thông tin đó, không cần phải truy xuất RAM, mà lấy ngay từ Cache.
- Loại bộ nhớ này không do HĐH quản lý và cấp phát.
- Thực tế, RAM (Bộ nhớ Sơ cấp) là loại Cache nhanh so với đĩa cứng (Bộ nhớ thứ cấp) và HĐH có chức năng quản lý sự lưu chuyển dữ liệu giữa 2 loại bộ nhớ này

Theo mình nghĩ bộ nhớ Cache la :
-Bộ nhớ Cache là bộ nhớ nằm bên trong của CPU, nó có tốc độ
truy cập dữ liệu theo kịp tốc độ xủa lý của CPU, điều này khiến
cho CPU trong lúc xử lý không phải chờ dữ liệu từ RAM vì dữ
liệu từ RAM phải đi qua Bus của hệ thống nên mất nhiều thời
gian.
- Một dữ liệu trước khi được xử lý , thông qua các lệnh gợi ý của
ngôn ngữ lập trình, dữ liệu được nạp sẵn lên bộ nhớ Cache, vì
vậy khi xử lý đến, CPU không mất thời gian chờ đợi .
Khi xử lý xong trong lúc đường truyền còn bận thì CPU lại
đưa tạm kết quả vào bộ nhớ Cache, như vậy CPU không mất
thời gian chờ đường truyền được giải phóng .
- Bộ nhớ Cache là giải pháp làm cho CPU có điều kiện hoạt động
thường xuyên mà không phải ngắt quãng chờ dữ liệu, vì vậy
nhờ có bộ nhớ Cache mà hiệu quả xử lý tăng lên rất nhiều, tuy
nhiên bộ nhớ Cache được làm bằng Ram tĩnh do vậy giá thành
của chúng rất cao

vai trò của bộ nhớ Cache

Có hai loại Cache cơ bản đó là Cache L1 và Cache L2. Bất kể một máy PC nào đều tỏ ra rất hữu hiệu khi dùng cache.Cache này thường có ở Chíp, Ram và cả trên ổ cứng. Bằng cách đọc nhiều dữ liệu hơn là trình ứng dụng đòi hỏi, dữ liệu cần thiết cho ứng dụng đó đã nằm sẵn sàng trong bộ nhớ cache. Do đọc dữ liệu từ cache nhanh hơn đọc từ đĩa cứng nên tốc độ của cả hệ thống cũng như của ứng dụng tăng đáng kể. Cache càng lớn thì CPU càng ít phải dùng đến bộ nhớ chính để lưu thông tin và lệnh, nhờ vậy tốc độ hệ thống nhanh hơn. Trong 2 loại Cache thì Cache L1 thường nhỏ hơn, nhanh hơn và hiệu quả hơn Cache L2. Để hiểu một cách thực tế thì Cache là một bộ đệm của máy tính nó là vùng lưu trữ các dòng lên hoặc các thông tin nhăm tăng tốc cho các quá trình xử lỹ thông tin dữ liệu mà không cần phải thông qua các thiết bị lưu trữ khác

NguyenTienPhong083 (I11C)

Tổng số bài gửi : 37
Join date : 26/08/2011
Age : 28

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 2

Bài gửi  NguyenTienPhong083 (I11C) on 2/9/2011, 00:24

Phân biệt nhập xuất đồng bộ với nhập xuất không đồng bộ ? cho ví dụ minh họa

- Synchronous I/O: Sau khi phát ra lệnh Nhập/Xuất, tiến trình người dùng được chuyển sang trạng thái chờ đến khi Nhập/Xuất hoàn tất rồi mới tiếp tục làm việc (phát tín hiệu đểthực hiện lệnh kế tiếp)
Ví dụ: Trong đời thường chúng ta hay đánh những văn bản, khi thực hiện việc đánh văn bản từ bàn phím, khi muốn lưu ta phải chon Save,sau đó đặt tên file, và chọn nơi lưu trữ. Các tiến trình đó ở trạng thái chờ tiến trình trước nhập xuất hoàn tất đã. .

- ASynchronous I/O: Sau khi phát ra lệnh Nhập/Xuất, tiến trình người dùng không chờ Nhập/Xuất hoàn tất cộng việc mà phát tín hiệu thực hiện ngay lập tức và thực hiện ngay lệnh kế tiếp. Như vậy, tiến trình vận hành song song với công việc Nhập/Xuất.
Để chứng minh điều đó, hãy xem hình vẽ sau:
Ví dụ: Khi ta thêm dữ liệu mới vào văn bản vào văn bản, khi ta muốn lưu thì ta chọn Save và lúc này tiến trình vận hành song song với việc phát ra lệnh từ Save

NguyenTienPhong083 (I11C)

Tổng số bài gửi : 37
Join date : 26/08/2011
Age : 28

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Nguyên lý bảo vệ phần cứng ban82ng 2 chế độ vận hành

Bài gửi  TranHaDucHuy on 2/9/2011, 00:51

Nguyên lý bảo vệ phần cứng bằng 2 chế độ vận hành:

1. User Mode:
- Chế độ người dùng là một trong hai phương thức thực hiện riêng biệt cho CPU (đơn vị xử lý trung tâm).

- Thay đổi trong chế độ này được gọi là một chuyển đổi chế độ, không nên nhầm lẫn với một chuyển ngữ cảnh (tức là, việc chuyển đổi của CPU từ một quá trình khác). Thủ tục tiêu chuẩn để chuyển đổi từ chế độ người dùng sang chế độ hạt nhân là để gọi phần mềm gián đoạn 0x80.

- Đó là một chế độ không có đặc quyền, trong đó mỗi quá trình (ví dụ, một ví dụ chạy của một chương trình) bắt đầu. Nó không có đặc quyền ở chỗ nó là cấm cho các quá trình trong chế độ này để truy cập vào những phần của bộ nhớ (tức là, RAM) đã được phân bổ cho các hạt nhân hoặc các chương trình khác. Hạt nhân là không phải là một quá trình, nhưng là một bộ điều khiển các quá trình, và nó một mình có quyền truy cập cho tất cả các tài nguyên trên hệ thống.

- Khi một quá trình chế độ người dùng (ví dụ, một quá trình đang trong chế độ người dùng) muốn sử dụng một dịch vụ được cung cấp bởi hạt nhân (tức là, truy cập tài nguyên hệ thống hơn so với không gian bộ nhớ hạn chế được phân bổ cho chương trình người dùng), nó phải chuyển đổi tạm thời vào chế độ hạt nhân, trong đó có đặc quyền gốc (tức là, hành chính), bao gồm các quyền truy cập root (tức là, cho phép truy cập vào bất kỳ không gian bộ nhớ hoặc tài nguyên khác trên hệ thống). Khi hạt nhân đã đáp ứng yêu cầu của quá trình, khôi phục lại quá trình chế độ người dùng.

- Gián đoạn một là một tín hiệu cho hệ điều hành là một sự kiện đã xảy ra, và nó kết quả trong những thay đổi trong trình tự của các hướng dẫn được thực hiện bởi CPU. Trong trường hợp một ngắt phần cứng, tín hiệu bắt nguồn từ một thiết bị phần cứng như một bàn phím (ví dụ, khi một người dùng nhấn một phím), chuột hoặc đồng hồ hệ thống (một mạch mà tạo ra các xung khoảng thời gian chính xác mà đang được sử dụng để phối hợp của máy tính hoạt động). Một phần mềm gián đoạn là một gián đoạn bắt nguồn từ phần mềm, thường là bằng một chương trình trong chế độ người dùng.

2. Monitor Mode:
- Chế độ tiến trình hệ thống
Mode bit : 0 - Monitor mode
1 - User mode

TranHaDucHuy

Tổng số bài gửi : 1
Join date : 01/09/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Nguyên lý bảo vệ phần cứng bằng 2 chế độ vận hành:

Bài gửi  TranHaDucHuy (I11c) on 2/9/2011, 01:23

Nguyên lý bảo vệ phần cứng bằng 2 chế độ vận hành:

1. User Mode:
- Chế độ người dùng là một trong hai phương thức thực hiện riêng biệt cho CPU (đơn vị xử lý trung tâm).

- Thay đổi trong chế độ này được gọi là một chuyển đổi chế độ, không nên nhầm lẫn với một chuyển ngữ cảnh (tức là, việc chuyển đổi của CPU từ một quá trình khác). Thủ tục tiêu chuẩn để chuyển đổi từ chế độ người dùng sang chế độ hạt nhân là để gọi phần mềm gián đoạn 0x80.

- Đó là một chế độ không có đặc quyền, trong đó mỗi quá trình (ví dụ, một ví dụ chạy của một chương trình) bắt đầu. Nó không có đặc quyền ở chỗ nó là cấm cho các quá trình trong chế độ này để truy cập vào những phần của bộ nhớ (tức là, RAM) đã được phân bổ cho các hạt nhân hoặc các chương trình khác. Hạt nhân là không phải là một quá trình, nhưng là một bộ điều khiển các quá trình, và nó một mình có quyền truy cập cho tất cả các tài nguyên trên hệ thống.

- Khi một quá trình chế độ người dùng (ví dụ, một quá trình đang trong chế độ người dùng) muốn sử dụng một dịch vụ được cung cấp bởi hạt nhân (tức là, truy cập tài nguyên hệ thống hơn so với không gian bộ nhớ hạn chế được phân bổ cho chương trình người dùng), nó phải chuyển đổi tạm thời vào chế độ hạt nhân, trong đó có đặc quyền gốc (tức là, hành chính), bao gồm các quyền truy cập root (tức là, cho phép truy cập vào bất kỳ không gian bộ nhớ hoặc tài nguyên khác trên hệ thống). Khi hạt nhân đã đáp ứng yêu cầu của quá trình, khôi phục lại quá trình chế độ người dùng.

- Gián đoạn một là một tín hiệu cho hệ điều hành là một sự kiện đã xảy ra, và nó kết quả trong những thay đổi trong trình tự của các hướng dẫn được thực hiện bởi CPU. Trong trường hợp một ngắt phần cứng, tín hiệu bắt nguồn từ một thiết bị phần cứng như một bàn phím (ví dụ, khi một người dùng nhấn một phím), chuột hoặc đồng hồ hệ thống (một mạch mà tạo ra các xung khoảng thời gian chính xác mà đang được sử dụng để phối hợp của máy tính hoạt động). Một phần mềm gián đoạn là một gián đoạn bắt nguồn từ phần mềm, thường là bằng một chương trình trong chế độ người dùng.

2. Monitor Mode:
- Chế độ tiến trình hệ thống
Mode bit : 0 - Monitor mode
1 - User mode

TranHaDucHuy (I11c)

Tổng số bài gửi : 10
Join date : 02/09/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Nguyên lý xử lý ngắt của HĐH

Bài gửi  ToThiThuyTrang (I11C) on 2/9/2011, 07:39

- Có hai loại ngắt chính:
+ Tín hiệu ngắt ( Interrupt Signal ) từ các thiết bị(Ngắt cứng) truyền qua system Bus.
+ Tín hiệu ngắt từ chương trình người dùng (ngắt mềm) nhờ lời goị hệ thống (System Call hay Monitor Call). Lệnh đặc biệt này (ví dụ có tên INT hoặc SysCall) là cơ chế để tiến trình người dùng yêu cầu một dịch vụ của HĐH (ví dụ thực hiện lệnh I/O).
- Với mỗi loại ngắt, có đoạn mã riêng của HĐH dùng để xử lý.
- Các HĐH hiện đại được dẫn dắt bởi các sự kiện. Nếu không có tiến trình nào vận hành,không có thiết bị I/O nào làm việc, HĐH im lặng chờ và theo dõi.
- Thông thường, mỗi loại ngắt tương ứng với một dòng trong bảng (véc-tơ ngắt) chứa con trỏ (Poniter) tới chương trình xử lý loại ngắt đó. Bảng này nằm ờ vùng thấp của RAM.
- Cơ chế xử lý ngắt phải có trách nhiệm ghi lại địa chỉ lệnh bị ngắt để sau đó có thể quay lại địa chỉ này cùng với nhiều thông tin khác có thể được ghi vào ngăn xếp hệ thống (System Stack) với nguyên tắc làm việc LIFO (Last-In,First-Out).
VD:
* Ngắt cứng:khi chương trình đang chạy thì bị ngắt do có câu lệnh buộc phải ngắt chương trình.
* Ngắt mềm:khi chương trình đang chạy nhưng người dùng muốn sử dụng thao tác khác nên máy tính phải dừng việc đang làm và thực thi hiệu lệnh của người dùng.
- Ngắt (interrupt) là quá trình dừng chương trình chính đang chạy để ưu tiên thực hiện
một chương trình khác, chương trình này được gọi là chương trình phục vụ ngắt (ISR –
Interrupt Service Routine).
- Trong các quá trình ngắt, ta phân biệt thành 2 loại: ngắt cứng và ngắt mềm
Ngắt mềm là ngắt được gọi bằng một lệnh trong chương trình ngôn ngữ máy
Khác với ngắt mềm, ngắt cứng không được khởi động bên trong máy tính mà do các
linh kiện điện tử tác đông lên hệ thống.
- Hoạt động: Khi thực hiện lệnh gọi ngắt, CPU sẽ tìm kiếm trong bảng vector ngắt địa chỉ của chương trình phục vụ ngắt. Người sử dụng cũng có thể xây dựng môt chương trình cơ sở như các chương trình xử lý ngắt. Sau đó, các chương trình khác có thể gọi ngắt ra để sử dụng. Một chương trình có thể gọi chương trình con loại này mà không cần biết địa chỉ của nó.
avatar
ToThiThuyTrang (I11C)

Tổng số bài gửi : 33
Join date : 25/08/2011
Age : 28
Đến từ : Bà Rịa-Vũng Tàu

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Nguyên Lý Bảo Vệ Phần Cứng

Bài gửi  ToThiThuyTrang (I11C) on 2/9/2011, 07:55

Hai chế độ vận hành (Dual-Mode Operation)
- Hệ điều hành hiện đại dùng cơ chế Dual-Mode để duy trì 2 chế độ là User Mode và Monitor Mode (còn gọi là Supervisor Mode, System Mode hoặc Privileged Mode) để bảo vệ phần cứng và các tiến trình đang vận hành.
- Một Mode Bit được đưa vào phần cứng của máy để chỉ báo cheá ñoä laøm vieäc hieän haønh: 0 - Monitor Mode, 1 - User Mode.
- Khi xảy ra ngắt, phần cứng chuyển từ User Mode sang Monitor Mode bằng cách đặt Mode Bit thành 0.
- Hệ điều hành đặt Mode Bit baèng 1 trước khi trả điều khiền về tiến trình ngươi dùng.
- Một số lệnh máy chỉ thực hiện được trong Monitor Mode (Các lệnh ưu tiên).
-Tiến trình ngươi dùng có thể gián tiếp thực hiện các lệnh ưu tiên qua lời gọi hệ thống (System Call).
- MS-DOS không có Dual-Mode.
- Bộ xử lý Pentium hổ trợ Mode bit, do đó các hệ điều hành Windows 2000 và OS/2 tận dụng được tính năng này để bảo vệ máy tính tốt hơn.

Để bảo vệ phần cứng, việc sử dụng và bảo quản phải được chú trọng-quan tâm hơn sẽ giúp cải thiện đáng kể về tốc độ, hiệu suất làm việc cũng như tuổi thọ của phần cứng sẽ được tăng cường.
Ví dụ như: Thiết lập chế độ tiêu thụ năng lượng đúng nhu cầu.Tăng dung lượng RAM nếu bạn còn khe RAM trống, điều này sẽ làm giảm khối lượng sử dụng ổ cứng và năng lượng pin. Bộ adapter, bộ nguồn cung cấp điện cho phần cứng (dùng cho máy) cũng rất quan trọng, nên dùng theo đúng chuẩn quy định của nhà sản xuất. Việc sử dụng điện áp dòng ở mức cao hay thấp hơn công suất đều làm ảnh hưởng đáng kể tới tuổi thọ của hệ thống vận hành phần cứng. Làm mát phần cứng, tránh những trục trặc do nhiệt độ cao gây ra như hiện tượng tắt nguồn đột ngột khi sử dụng, gây lỗi bad sector(của ổ cứng), cháy nổ chipset, v..v...
Bảo trì phần cứng bằng cách dùng phần mềm như các bạn nói (chống phân mảnh, giảm nhiệt, ...) thì rất là khả thi. Ngoài ra cần chú ý: phải cài đặt chương trình phù hợp, luôn cần sử dụng đúng phiên bản phần mềm cho tương thích với cấu hình của phần cứng, làm cho hệ thống không mắc lỗi, nếu không rất có khả năng hệ thống phần cứng không hoạt động được vì xung đột phần mềm, hệ điều hành bị treo.
avatar
ToThiThuyTrang (I11C)

Tổng số bài gửi : 33
Join date : 25/08/2011
Age : 28
Đến từ : Bà Rịa-Vũng Tàu

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Phân Biệt Nhập Xuất Đồng Bộ & Nhập Xuất Không Dồng Bộ

Bài gửi  ToThiThuyTrang (I11C) on 2/9/2011, 08:03

Synchronous I/O: Sau khi phát ra lệnh Nhập/Xuất, tiến trình chuyển sang trạng thái chờ đến khi Nhập/Xuất hoàn tất rồi mới chạy tiếp (thực hiện lệnh kế tiếp).
ASynchronous I/O: Sau khi phát ra lệnh Nhập/Xuất, tiến trình không chờ Nhập/Xuất hoàn tất mà thực hiện ngay lệnh kế tiếp. Như vậy, tiến trình vận hành song song với công việc Nhập/Xuất.
Ex: Bạn không thể vừa uống cafe vừa thổi bong bóng được nè (Cái này là nhập xuất phải đồng bộ), sau khi làm xong việc này mới làm được việc tiếp theo. Còn Bạn vừa nghe nhạc vừa làm việc (Không đồng bộ), bạn không phải đợi làm xong việc mới nghe được nhạc mà bạn có thể làm cả 2 cùng lúc.
avatar
ToThiThuyTrang (I11C)

Tổng số bài gửi : 33
Join date : 25/08/2011
Age : 28
Đến từ : Bà Rịa-Vũng Tàu

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Bảo vệ CPU bằng Timer.

Bài gửi  NguyenThanhTam (I11C) on 2/9/2011, 15:22

Admin đã viết:Thảo luận những vấn đề liên quan đến Bài 2
Bảo vệ CPU bằng Timer.
• CPU protection: bảo đảm OS phải duy trì được quyền điều khiển, tránh trường hợp user bị lặp vô hạn, không trả quyền điều khiển. Cơ chế thực hiện là timer.
• Timer – kích khởi các ngắt quãng định kỳ
........ Bộ đếm timer sẽ giảm dần sau mỗi xung clock của máy tính.
........ Khi timer bằng 0 thì kích hoạt ngắt timer và OS sẽ nắm quyền điều khiển.
• Timer cũng được sử dụng để hiện thực hệ thống time sharing.
Thiết lập timer gây ngắt định kỳ N ms (time slice, quantum)
• Timer cũng được dùng để tính thời gian.
• Lệnh nạp giá trị cho bộ đếm timer là privileged instruction.
avatar
NguyenThanhTam (I11C)

Tổng số bài gửi : 21
Join date : 25/08/2011
Age : 29

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 2

Bài gửi  NguyenTienPhong083 (I11C) on 2/9/2011, 15:45

Bảo vệ Nhập/Xuất bằng System Call

System call – phương thức duy nhất mà process dùng để yêu cầu các dịch vụ cung cấp bởi OS
o Các system call gây ra ngắt mềm (gọi là trap).
o Quyền điều khiển được chuyển đến trình phục vụ ngắt, mode bit được thiết lập là monitor mode.
o OS kiểm tra tính hợp lệ và đúng đắn của các đối số, thực hiện yêu cầu và trả quyền điều khiển về lệnh kế tiếp sau system call.

NguyenTienPhong083 (I11C)

Tổng số bài gửi : 37
Join date : 26/08/2011
Age : 28

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Trình bày thuật giải bảo vệ bộ nhớ bằng thanh ghi cơ sở và thanh ghi giới hạn

Bài gửi  NguyenThanhTam (I11C) on 2/9/2011, 15:47

CPU tính toán ra 1 địa chỉ và địa chỉ này phải được kiểm tra tính hợp lệ.
•Nếu địa chỉ nhỏ hơn giá trị lưu trong thanh ghi cơ sở thì hệ thống sẽ báo lỗi.
• Nếu địa chỉ lớn hơn hoặc bằng giá trị lưu trong thanh ghi cơ sở thì tiếp tục được kiểm tra với giá trị trong thanh ghi giới hạn cộng với giá trị trong thanh ghi cơ sở:
......... Nếu địa chỉ lớn hơn hoặc bằng tổng trên thì hệ thống sẽ báo lỗi truy cập sai địa chỉ.
(vẽ hình và giải thích)
avatar
NguyenThanhTam (I11C)

Tổng số bài gửi : 21
Join date : 25/08/2011
Age : 29

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Ví dụ Nhập/Xuất

Bài gửi  hongthuanphong (I11C) on 2/9/2011, 18:13

Mình cho VD Thêm về nhập Xuất Đồng Bộ và Không Đồng Bộ.
Đồng Bộ: Khi ta tạo một đoạn văn bản trên máy tính ta muốn SAVE lại thì nhấn YES or NO . chọn YES để chọn nơi lưu , đặt tên cho văn bản. Các tiến trình đó ở trạng thái chờ tiến trình nhập xuất hoàn tất đã.
Không Đồng Bộ: InM một tập tin lớn ra giấy.

hongthuanphong (I11C)

Tổng số bài gửi : 18
Join date : 26/08/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 2

Bài gửi  TranMinh (I11C) on 2/9/2011, 22:04

TruongHanhPhuc (I11C) đã viết:B. Các thành phần của máy tính :

Máy tính được chia làm 3 thành phần cơ bản sau :

- Hardware

- Software

- Firmware

a. Hardware :
Đây là phần thiết bị vật lý cấu thành nên máy tính.
VD: CPU, Mainboard, RAM....

b. Software:

Là phần mềm do trí tuệ con người tạo ra nhằm phục vụ cho mục đích sử dụng của con người

Nó bao gồm :

-Appication Software : Phần mềm ứng dụng : Là phần mềm phục vụ cho một mục đích chuyên biệt nào đó VD: Word ,Execl....

-Utility Software: Phần mềm tiện ích: Là phần mềm mang lại lợi ích cho người sử dụng trong việc quản lý hệ thống máy tính như việc quản lý ổ đĩa , thư mục , file ...VD .NC, NU , Norton Ghost ....

-Hệ điều hành: Operating System :

Là phần mềm để khởi động máy tính ,kết nối các thiết bị ngoại vi và còn là môi trường để các phần mềm khác chạy trong nó

-Các ngôn ngữ lập trình : Progamming langueges :

Đây là những phần mềm để tạo ra những phần mềm kể trên , có 2 loại ngôn ngữ lập trình

+ Low level langueges : Ngôn ngữ lập trình bậc thấp

+ High Level : Ngôn ngữ lập trình bậc cao

c. Firmware :

Là phần để kết nối giữa phần cứng và phần mềm . VD CMOS
Mình xin bổ sung thêm bài của bạn là Firmware ko phải là phần kết nối giữa phần cứng và phần mềm .
Firmware cũng giống như Software nhưng khác nhau về cấp độ .Không có ranh giới gì rõ rệt hoặc được định nghĩa chỉnh giữa Firmware và Software. Tuy nhiên, firmware chủ yếu liên quan tới những quy trình hết sức cơ bản và cấp thấp trong một thiết bị, không có chúng thì thiết bị hoàn toàn không thể hoạt động.

TranMinh (I11C)

Tổng số bài gửi : 19
Join date : 25/08/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Phân biệt ngắt cứng và ngắt mềm

Bài gửi  nguyen huynh nhu (102C) on 2/9/2011, 22:24

Ngắt cứng:
Ngắt cứng là ngắt được phát ra từ thiết bị phần cứng.
Ngắt mềm:
Ngắt mềm là ngắt được phát ra từ chương trình người dùng.
avatar
nguyen huynh nhu (102C)

Tổng số bài gửi : 19
Join date : 17/03/2011
Age : 28
Đến từ : BH-DN

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Giải thích hai phương thức nhập xuất (I/O)

Bài gửi  NguyThiGai (I11C) on 2/9/2011, 23:33


Khi xem sơ đồ của hai phương thức nhập xuất (I/O) mình có một số vấn đề không hiểu:
- Điều khiển thiết bị (device driver) là gì?
- Quá trình thực hiện nhập xuất (I/O) có nhất thiết phải sử dụng điều khiển thiết bị (device driver) không? Nếu không sử dụng điều khiển thiết bị (device driver) thì có thể thực hiện nhập xuất được không?
- Khi nào sử dụng nhập xuất đồng bộ và khi nào sử dụng nhập xuất không đồng bộ?
Các bạn giúp mình ha!

NguyThiGai (I11C)

Tổng số bài gửi : 28
Join date : 26/08/2011
Age : 29

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 2

Bài gửi  Sponsored content


Sponsored content


Về Đầu Trang Go down

Trang 1 trong tổng số 7 trang 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7  Next

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết