Thảo luận Bài 3

Trang 5 trong tổng số 8 trang Previous  1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8  Next

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

Tại sao phải dùng VMWare Server để ảo hóa máy chủ ?

Bài gửi  DaoVanHoang (I11C) on 12/9/2011, 21:28

Virtualization (ảo hóa) đang trở thành phổ biến và sẽ còn phổ biến nhiều hơn nữa. Vì sao nên ảo hóa cho máy chủ của bạn ? Bài viết này sẽ cung cấp cho bạn những lý do để bạn chọn và sử dụng VMWare Server cho giải pháp áo hóa của mình.

1. VMWare Server là miễn phí
Giống như Microsoft Virtual PC, VMware Server là miễn phí. Nhưng bạn vẫn phải có License cho các hệ điều hành (vd : windows 2003 Server) mà sẽ cài trên WMWare Server và tất nhiên nếu chọn Linux thì sẽ là miễn phí.

2. Giảm bớt gánh nặng quản trị
Với VMware Server, gánh nặng quản trị máy chủ của bạn sẽ được giảm. Theo VMware, bạn có thể làm giảm tỷ lệ quản trị để phục vụ từ 1:10 đến 1:30. Điều này có nghĩa là bạn có thể tiết kiệm thời gian của bạn trong công việc quản trị hàng ngày hoặc có thể quản lý thêm máy chủ do có VMware
Dưới đây là một số ví dụ về cách VMware có thể giảm bớt gánh nặng quản trị cho bạn :

- Tập trung quản trị, cho phép truy cập nhanh đến các máy chủ.
- Bạn có thể nhanh chóng mount các đĩa CD / DVD bằng cách sử dụng các file image (.iso).
- Bạn có thể triển khai các máy chủ nhanh hơn.
- Nhanh chóng phân bổ thêm RAM hay ổ đĩa cứng.
- Nhanh chóng chuyển một máy chủ ảo từ Server này sang Server khác.

3. Triển khai Server nhanh hơn
Bởi vì mỗi máy chủ ảo đơn giản chỉ là một tập tin trên đĩa, bạn có thể nhanh chóng clone một hệ thống đã có hoặc tạo ra một hệ thống mới.
Để clone một máy chủ hiện có bạn có thể chỉ cần sao chép toàn bộ thư mục của máy chủ ảo hiện tại của bạn. Để không xung đột bạn sẽ cần phải đổi tên thư mục của máy chủ ảo mới, và các tập tin hiện tại, chỉnh sửa các file .vmx, thay đổi SSID nếu máy ảo dung Windows, thay đổi tên máy và địa chỉ IP (nếu đặt địa chỉ tĩnh).

4. Giảm chi phí cơ sở hạ tầng
- Giảm chi phí làm mát, tiết kiệm điện năng.
- Tiết kiệm không gian, diện tích.

5. Thêm các tính năng cạnh tranh
Giống như Microsoft Virtual PC, VMware Server là miễn phí để tải về và sử dụng. Cả hai cho phép bạn ảo hóa Windows và các hệ thống Linux. WMWare là công ty có tên tuổi về giải pháp ảo hóa trên thế giới.
VMWare Server hỗ trợ : 2 CPU trên một máy ảo và hỗ trợ hệ điều hành 64bit cho máy ảo

DaoVanHoang (I11C)

Tổng số bài gửi : 24
Join date : 31/08/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 3

Bài gửi  VoMinhHoang (I11C) on 12/9/2011, 22:13

NgoLeYen48(I11C) đã viết:


- Liên lạc giữa các tiến trình: Bằng thông điệp(Messages) và qua Vùng nhớ chung.Trao đổi thông tin giữa các tiến trình trên một máy/giữa các máy khác nhau trong mạng.
-Liên lạc giữa các tiến trình:
+ Mỗi máy tính trong mạng có HostName và IP Address. Các tên này được HĐH chuyển đổi thành một số nguyên gọi là HostID.
+ Mỗi tiến trình có ProcessName và ProcessID.
+ Cặp số (HostID, ProcessID) xác định duy nhất tiến trình trong mạng và được dùng để mở/đóng kết nối với tiến trình đó.
+ Các lời gọi hệ thống kiểu Open,Close,Read,Write,Wait để thao tác với tiến trình.
- Truyền thông điệp: Tiến trình A sẽ truyền dữ liệu thông qua hệ thống, Tiếntrình B sẽ nhận dữ liệu từ hệ thống.
- Dùng bộ nhớ chung: Tiến trình A sẽ truyền dữ liệu vào bộ nhớ chia sẻ (dùng chung), Tiến trình B sẽ lấy dữ liệu tù bộ nhớ chia sẻ này. Dùng bộ nhớ chung phải thực hiện đồng bộ hóa để đảm bảo dữ liệu sau không chồng lên dữ liệu trước.

********************************************************************************
MÌnh xin góp lời bạn NgoLeYen48(I11C) xin nói rõ hơn 2 mô hình liên lạc và trao đổi thông tin giữa các tiến trình:
+ mô hình 1: truyền thông điệp (Messenge_Passing): VD giống như sự truyền thư giữa 2 nhà A và nhà B. Đầu tiên nhà A muốn truyền đạt thông tin cho nhà B thì sẽ nhờ bưu điện làm trung gian, bưu điện sẽ tiếp nhận thư của nhà A và kiểm tra địa chỉ chính xác nơi cần gởi tới là nhà B. Qua đó, cho thấy bưu điện (Kernel) làm nhiệm vụ liên lạc và truyền tải dữ liệu thông tin sự gắn kết giữa 2 nhà A (process A) và nhà B (process B).
+ mô hình 2: dùng bộ nhớ chung (Shared_Memory): VD: (TÔI TÊN LÀ....) trong giờ sinh hoạt lớp đầu năm giáo viên đề nghị từng bạn lên bảng viết đầy họ và tên và 1 bạn X làm nhiệm vụ chụp lại từng bạn khi lên bảng viết thông tin. Một lần bạn N lên bảng điền thông tin nhưng chỉ ghi được Nguyễn Văn (lúc đó đang quay mặt xuống phía dưới lớp) thì bạn N đã chụp xong tấm hình. Vậy nhìn vào tấm hình đó ta chỉ đoán ra được bạn N đó tên là Văn. QUa ví dụ trên cho ta thấy việc chia sẻ thông tin trên mạng là cực kỳ chính xác, vì khi thông tin chưa cập nhật lần cuối cùng mà người dùng là lấy về và sử dụng đó thật là nguy hiểm làm sai lệch đi thông tin. Vì vậy nếu dùng Shared_Memory là phải giải quyết cho xong công việc của tiến trình đó thì dữ liệu thông tin sau cùng mới thật sự chính xác.

avatar
VoMinhHoang (I11C)

Tổng số bài gửi : 26
Join date : 08/09/2011
Age : 31
Đến từ : Tp Tan An - Long An

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

RISC và CISC

Bài gửi  lengocthuthao89 (i11c) on 13/9/2011, 01:20

1. RISC có những gì ?
RISC là viết tắt của “reduced instruction set computer”, với gợi ý là máy tính (hay là bộ vi xử lý bên trong nó) đã được giảm nhỏ tập lệnh. Nó giống như là CPU Lite. Hay bạn có thể nói thô thiển là: đó là một dạng thu nhỏ (cắt giảm) của một con vi xử lý, có thể bạn nói đúng một phần nào đó.
Triết lý cho phát triển RISC đó là cắt giảm bộ vi xử lý để chỉ còn lại những bộ phận thiết yếu của nó. Những gì không thực sự cần thiết sẽ bị vứt bỏ. Với các nhà lập trình thì đó có nghĩa là các chíp RISC thường không thể thực hiện một phép nhân đơn giản. Lý thuyết của phép nhân là thực hiện liên tiếp nhiều phép cộng, do đó lệnh ADD là đủ.
Một ý khác của RISC đó là các chức năng phức tạp thích hợp thực hiện bằng phần mềm hơn là bằng phần cứng. Phần mềm thì dễ thay đổi, dễ cập nhật, và tạo ra nhanh hơn. Viết mã mới nhanh hơn là thiết kế và xây dựng một chíp mới. Do đó các máy tính dựa trên RISC có thể được nâng cấp nhanh hơn. Các chương trình và các thuật toán có thể điều chỉnh và cải tiến. Tốt nhất là phần cứng RISC phải được đơn giản hóa, tối ưu hóa sao cho nó chạy nhanh hơn.
Đúng là lúc đầu các chíp RISC nhỏ hơn, đơn giản hơn, và nhanh hơn so với các chíp CISC vào thời điểm đó. Vứt bỏ các trang bị thừa mứa mà các dòng vi xử lý như 68020 và 80286 đã tích lũy, các dòng RISC cạnh tranh như SPARC và MIPS trở nên nhanh hơn nhiều. Nếu xét về tốc độ rõ ràng là RISC là người chiến thắng. Các tạp chí kỹ thuật và các xuất bản thương mại tới tấp quảng cáo sâu rộng RISC như là một lĩnh vực mới cho máy tính. Tất cả các vi xử lý quen thuộc trước kia dường như kiệt quệ.
Dòng vi xử lý 68K tốc độ xung nhịp chỉ khoảng 66 MHz, trong khi đó với các dòng kia thì tốc độ xung nhịp tính bằng 3 con số. Ngay cả bây giờ cũng vậy, hầu hết các vi xử lý 68K tốc độ chỉ dưới 100 MHz. Phải chăng dòng vi xử lý CISC sắp chết và không thể dùng cho các ứng dụng hiện đại ?
Dù thấp hơn về tốc độ xung nhịp, các chíp CISC như 68K và x86 vẫn cho hiệu suất ngang bằng, và có thể cao hơn so với các đối thủ RISC. Chúng đáng xem xét hơn và thường là sự lựa chọn tốt nhất cho nhiều hệ thống nhúng. Dù được gán nhãn chói lọi RISC thường là sự lựa chọn tệ hại cho các ứng dụng real-world.
2. Tốt và xấu
Những gì bạn nhận được từ kiến trúc RISC đó là một CPU khá đơn giản, với tập lệnh dễ hiểu và trực quan. Tất cả các lệnh có cùng chiều dài, điều này làm cho chúng dễ dàng xắp xếp gọn gàng trong RAM. Chúng cũng có cách mã hóa tương tự nhau, do đó nếu bạn có ý định dịch ngược opcode của RISC thì cũng dễ thực hiện. Cũng dễ dàng đếm số lệnh trong bộ nhớ. Và cuối cùng rất dễ tính toán số chu kỳ máy thực hiện cho một đoạn chương trình, bởi vì các lệnh của RISC hầu hết đều thực hiện trong một chu kỳ máy. Chỉ cần đếm số lệnh (hoặc số byte, đem chia cho 4) và bạn có kết quả, dĩ nhiên là tạm loại trừ ảnh hưởng của cache và các trạng thái chờ.
RISC là những gì thực hiện bằng hoặc không bằng tập lệnh, hoặc các tính năng khác mà bạn muốn. Trước tiên là về toán học. Hầu hết các chíp RISC trước kia không có lệnh nhân và cũng không có lệnh chia. Ngày nay hầu hết vẫn không có lệnh chia. Nếu bạn là người lập trình bằng hợp ngữ thì xin chúc mừng, bạn phải tự viết các hàm thực hiện phép nhân và phép chia số nguyên. Đừng nghĩ đến phép toán dấu chấm động, hầu hết các chíp RISC không hỗ trợ điều này. Công bằng thì hầu hết các chíp CISC cũng chẳng có các bộ FPU, nhưng FPU phổ biến trong các bộ vi xử lý CISC loại cũ nhiều hơn là trong các chíp RISC mới.
Bạn cũng chẳng có các phép toán trực tiếp trên bít. Ví dụ, để kiểm tra và đảo một bít trong một thanh ghi trạng thái, bạn phải đọc toàn bộ nội dung của thanh ghi vào bên trong vi xử lý. Rồi che các bít mà bạn không sử dụng, dịch phải kết quả, kiểm tra trạng thái của bít, đảo bít dùng phép exclusive-OR, dịch trái nó trở lại vị trí cũ, rồi ghi nó trở ra thanh ghi.
Truy cập bộ nhớ không xắp xếp cũng là phần bị bỏ đi trong RISC. Các chíp RISC đã được thiết kế cho các trạm làm việc, nơi mà dữ liệu luôn được xắp xếp theo từ (word) bởi vì trình biên dịch đặt chúng nằm như thế. Lượng dữ liệu nhỏ hơn (như byte) hoặc là không tồn tại hoặc là được chèn thêm zero để vừa với một từ 32 bít. Trong các hệ thống nhúng hiếm khi có sự ngăn nắp như vậy.
Một số 32 bít được lưu ở một địa chỉ lẻ sẽ không thể truy cập được bởi nhiều chíp RISC. Chúng không thể xử lý được các toán hạng không xắp xếp (?). Tương tự như vậy, lượng dữ liệu lẻ, như giá trị 24 bít phải được mở rộng zero- hoặc sign- khi lưu trữ chúng, và như thế là lãng phí RAM.
Có một tin tốt đó là trình biên dịch đã xử lý điều này. Nếu bạn là người lập trình bằng hợp ngữ, RISC sẽ là sự đau khổ. Nếu bạn lập trình bằng C hoặc là một ngôn ngữ cấp cao nào đó thì bạn không cần để ý đến các giới hạn này. Trừ khi bạn quan tâm đến mật độ mã.
3. Mật độ mã
Dĩ nhiên kích thước mã không quan trọng. Trừ khi bạn là một nhà lập trình nhúng hoặc là một kỹ sư, và bạn phải nhét 10k mã vào trong một chíp chỉ có 5k mã, khi đó ép kích thước mã xuống là một vấn đề lớn. Nhiều nhà thiết kế hệ nhúng đã đổ nhiều tiền vào RAM và ROM của hệ thống hơn là vào bộ vi xử lý. Bộ nhớ xác định (hay là giới hạn) đặt điểm của nhiều hệ thống. Nếu các nhà lập trình không thể đặt vừa mã vào bộ nhớ thì coi như xong.
Khi đó mật độ mã trở thành một vấn đề lớn. Mật độ mã mô tả mã thực thi của một chương trình được đóng gói chặt chẽ đến mức nào, và nó khác nhau đáng kể giữa các dòng vi xử lý. Nếu bạn không có kinh nghiệm về điều này, bạn có thể nghĩ rằng trình một chương trình C đã được biên dịch thì thực thi trên con chíp nào cũng như nhau. Đó là sai lầm lớn.
Cùng một chương trình C biên dịch cho các chíp khác nhau sẽ cho ra memory footprint hoàn toàn khác nhau. Đó không phải là lỗi hay là khuyết điểm của trình biên dịch. Đó là đặc điểm tự nhiên của các CPU. Và RISC thì cũng như thế.
Hình 1 cho thấy mật độ mã của một số vi xử lý phổ biến. Như bạn thấy sự khác nhau có thể lên đến mức 2:1. Ngay cả khi các chíp này thực thi cùng một chương trình (có nghĩa là có cũng mã nguồn) và tạo ra cùng một kết quả, thì mã trên chíp này vẫn có thể ít hơn một nửa so với chíp kia. Đó là mật độ mã.
Bạn cũng có thể thấy rằng các chíp CISC có mật độ mã tốt hơn so với các chíp RISC. Nhớ là nguyên lý chủ đạo của RISC đó là phần cứng phải đơn giản, tất cả các hoạt động phức tạp được thực hiện bằng phần mềm. Điều đó có nghĩa là chíp RISC của bạn sẽ cần nhiều phần mềm hơn để thực hiện cùng một công việc. Hầu hết các chíp RISC không có lệnh chia. Nếu bạn muốn chia 2 số bạn phải hiện bằng phần mềm.
Trình biên dịch phải làm việc bằng tập lệnh mà phần cứng đã cho. Nếu vi xử lý có tập lệnh nhỏ trình biên dịch phải bù lại bằng cách tạo ra nhiều phần mềm.

4. Nén mã
Một lý do khác mà các chíp CISC có mật độ mã tốt hơn đó là bởi vì chúng tập lệnh có xu hướng được làm ngắn hơn. Theo định nghĩa các chíp RISC 32-bit phải có tập lệnh 32-bit. Còn một chíp CISC 32-bit thì lại khác, có thể có lệnh 8-bit, 16-bit, 32-bit và có cả các lệnh dài hơn nữa. Đây là một trong những đặc điểm làm cho chíp CISC phức tạp, nhưng điều đó cũng làm cho nó thực tế hơn trong các hệ thống nhúng.
Tại sao bạn quan tâm đến số bít của tập lệnh ? Bởi vì trong khi một con 68020 có thể đặt vừa một lệnh ADD vào chỉ 8 bít của bộ nhớ chương trình thì một con MIPS R400 lại cần đến 32 bit, như thế là bạn đã ném đi 3/4 bộ nhớ quý giá cho mỗi lần chương trình thực hiện cộng hai số với nhau. Và chíp MIPS không thể cộng nhanh hơn chíp 68K, do đó bạn cũng chẳng được gì hơn ngoài lời nói bạn đang sở hữu một hệ thống RISC.
Trong thời gian gần đây một số nhà sản xuất RISC đã đưa ra giải pháp thông minh để giải quyết vấn đề này. Giải pháp này thường được gọi là nén mã, nhưng đó chỉ là sự dùng từ sai. Không có sự nén mã thực sự, giống như PKZIP. Họ chỉ thay đổi tập lệnh của chíp một ít sao cho không phải tất cả các lệnh đều dài 32 bít.
3 ví dụ chính cho vấn đề này đó là ARM, ARC Cores và MIPS. Chúng có các phiên bản nén mã với các tên gọi tương ứng là Thumb, ARCompact và MIPS-16. Chúng đều thêm một số lệnh 16-bit vào tập lệnh 32-bit. Trình biên dịch C của chúng bây giờ có thể lựa chọn dùng các lệnh 16-bit để làm cho mã thực thi nhỏ hơn.
Nhỏ hơn bao nhiêu tùy thuộc vào nhiều thứ. Và như bạn đã thấy, tiếp thị bằng cách thổi phồng chẳng bao giờ dễ cả. Tuy nhiên trong các thử nghiệm thực tế độ nén trung bình khoảng 20% đến 30% và tùy thuộc vào chương trình. Nhắc bạn rằng đó chỉ là sự nén của không gian mã, vùng dữ liệu không được nén. Tuy nhiên đó vẫn là một hướng đúng để làm cho kiến trúc RISC hấp dẫn hơn những gì mà chúng đã có.
Trong hai trường hợp (ARM Thumb và MIPS MIPS-16) mã thực thi phải xác định rõ ràng giữa chế độ 32-bit và 16-bit. Bạn không thể trộn lẫn hai loại lệnh này với nhau, do đó bạn phải cách ly đoạn mã chạy bằng các phép toán 16-bit ra khỏi đoạn mã chạy bằng các lệnh 32-bit.
Bạn thấy đấy, cân bằng giữa tập lệnh ngắn hơn là sự giới hạn của nó. Ví dụ, mã 16-bit không thể xử lý ngắt, quản lý cache, quản lý bộ nhớ, hoặc nhảy. May mắn là trình biên dịch cho Thumb và MIPS-16 đã loại trừ các vấn đề này. ARCompact của ARC không có sự giới hạn này bởi vì nó không chuyển đổi giữa hai chế độ. Nó trộn lẫn cả hai kích thước, do đó bạn không phải vất vả tách rời chương trình của bạn.
Một điểm khác nữa, cách giải quyết của IBM cho các chíp PowerPC nhúng đó là CodePack. Không như các tập lệnh nén khác, IBM thực sự nén mã nhị phân thực thi của nó, giống như là sử dụng PKZIP để nén vậy. Bạn nén chương trình sau khi compliled, assembled và linked. Rồi lưu phiên bản được nén này vào ROM hoặc đĩa. Chắc chắn là các chíp PowerPC nhúng phải có thêm phần cứng để giải nén và ném chúng vào bộ nhớ.
Thứ nhất sẽ hoàn toàn không dò được mã, bởi vì nó không được lưu trữ theo định dạng mã thông thường. Mã đã bị nén điều này làm cho nó khó bị disassemble. Đó có thể là một thuận lợi nếu bạn muốn bảo vệ mã khỏi những cặp mắt tò mò. CodePack mã hóa phần mềm hiệu quả như nén phần mềm vậy.
Thứ hai, bởi vì phải giải nén phần mềm khi đang thực thi, đôi khi có thể mất thời gian lâu hơn dự đoán. Việc xử lý lệnh rẽ nhánh và nhảy thực sự phải khéo léo, bởi vì đích của lệnh rẽ, sẽ không dễ dàng xác định được khi nó bị mã hóa, có thể nằm đâu đó trong ROM.
Thứ 3, với mỗi chương trình CodePack dùng một chìa khóa nén riêng do đó các chương trình khác nhau sẽ nén hoàn toàn khác nhau. Điều đó có nghĩa là mã nhị phân đã nén không thể thực thi được trên một chíp PowerPC khác trừ khi bạn cung cấp chìa khóa.
Cuối cùng, CodePack có cùng hệ số nén 30% như ARC, ARM và MIPS. Với tất cả độ phức tạp của nó, nó chẳng tốt hơn đáng kể. Tuy nhiên cũng đáng khâm phục IBM bởi vì họ đã đưa ra vài thứ hoàn toàn khác.
5. Năng lượng cho RISC
Một trong những thuận lợi của các chíp RISC là chúng có sự tiêu thụ năng lượng thấp. Như một luật lệ các chíp RISC dùng ít năng lượng hơn nhiều so với CISC. Điều này là rõ ràng: thiết kế của vi xử lý RISC là đơn giản hơn và hợp lý hơn thì phải dùng năng lượng ít hơn.
Điểm này rất quan trọng nếu bạn đang làm các smart card, thermostat, hoặc cell phone.
Mật độ mã đóng một vai trò trong tiêu thụ năng lượng, do đó chíp có mật độ mã tốt hơn có thể sử dụng ít năng lượng hơn bởi vì chúng không cần mất nhiều thời gian để truy cập bộ nhớ. Mỗi lần tìm nạp ROM hoặc đọc/ghi RAM sẽ tiêu thụ một ít năng lượng. Càng giảm thiểu điều này thì càng tốt. Có thể nói rằng tăng 2 lần mật độ mã là tăng 2 lần tiêu thụ năng lượng.

6. Hiệu suất
Hiệu suất là một vấn đề lớn mà ai cũng nhắm tới. Hiệu suất tốt hơn là một trong những lợi ích chính của RISC, do đó mà các chíp RISC luôn nhanh hơn, đúng không ? Không !
Cuộc đua giữa các vi điều khiển không đơn giản, bởi vì mọi người quan tâm đến các loại hiệu suất khác nhau. Ví dụ, chíp nào tốt cho xử lý media có thể không tốt cho xử lý mạng. Thế đủ để nói rằng không có một vi xử lý nào xuất sắc về mọi mặt. Mỗi tập lệnh CPU là một sự thỏa hiệp.
Bạn phải chọn một CPU với kiến trúc tập lệnh (instruction set architecture – ISA) phù hợp với ứng dụng thực tế của bạn. Hai chíp chạy cùng tốc độ (ví dụ 100 MHz) có thể cho hiệu suất hoàn toàn khác nhau bởi vì sự khác nhau trong ISA. Đó là lý do tại sao các nhà sản xuất vẫn tiếp tục điều chỉnh tập lệnh, và đó cũng là lý do tại sao các dòng CPU mới có tập lệnh do chính người sử dụng định nghĩa đang được mọi người ưa chuộng.
Đa số các tập lệnh của RISC đều như nhau, tưởng chừng như chúng chỉ hỗ trợ những vấn đề thiết yếu ? Thực tế thì mỗi kiến trúc RISC đều đang dần thay đổi mà không bám chặt vào đường lối RISC trước kia. Tuy nhiên đánh giá gần đúng thì các chíp RISC đều có điểm chung và có thể thay thế cho nhau.
Với CISC thì khác, chúng có tập lệnh đầy đủ, có thể hoặc rất hữu dụng hoặc hoàn toàn không phù hợp cho hệ thống của bạn. Đôi khi bạn tự hỏi ở đâu chui ra các tập lệnh kỳ quặc như thế, các nhà lập trình sử dụng các tập lệnh đó vào việc gì. Khi khác bạn lại tự hỏi bạn phải xoay xở làm sao nếu không có các tập lệnh như thế.
Một trong các lệnh mà tôi thích là lệnh TBLS ở dòng chíp 68300 của Motorola. TBLS là một lệnh tra bảng và nội suy (table look up and interpolate instruction). Hầu hết các nhà lập trình sẽ chẳng bao giờ dùng nhưng nó sẽ cứu đời bạn khi bạn cần đến nó.
Tập TBLS cho phép bạn tạo ra một hàm hình học phức tạp từ một bảng các điểm dữ liệu rời rạc. TBLS tìm kiếm trong bảng giá trị mà bạn đã tạo ra, xác định hai số gần nhất với số mà bạn chỉ định. Sau đó thông qua phép nội suy tuyến tính nó chỉ ra chính xác giá trị nằm giữa hai số kia. Thực chất TBLS nối hai điểm trong đồ thị các điểm x, y rời rạc, trả về giá trị y từ giá trị x như ở hình 2.
Khá lạ, bạn nghĩ thế ? Nhưng nó rất cần thiết nếu bạn đang làm điều khiển chuyển động. Nó giúp thay thế hàng trăm dòng lệnh nếu dùng các hàm xử lý hình học thông thường với tất cả các trường hợp biệt lệ và các điều kiện biên khác nhau. Nhớ là TBLS là một lệnh đơn thực hiện chỉ mất khoảng 30 chu kỳ xung nhịp.

7. Lời kết
Tóm lại RISC cung cấp các chức năng để có được tốc độ xung nhịp nhanh hơn. Nếu bạn ưa tốc độ và tốc độ xung nhịp là thứ mà bạn cần thì hãy dùng nó. Bạn sẽ có tốc độ xung nhịp cao hơn bằng cách dùng một vi xử lý 200 MHz thay vì dùng một con 75 MHz.
Tuy nhiên có thể bạn không có được hiệu suất tốt hơn, và chắc chắn là sẽ phải bỏ ra nhiều tiền hơn. Một bộ vi xử lý nhanh cần phải có một RAM nhanh, một ROM nhanh, và I/O nhanh. Kiến trúc bus cũng phải nhanh hơn. Và cache sẽ đóng vai trò lớn trong hiệu suất khi mà tốc độ đó dùng đến 90% thời gian quý báu của nó để truy xuất cache.
Không thể phủ nhận khả năng của RISC. Nó được hiểu như là một con đường đi tới mới, đầy hứng thú. Cũng thật khác thường là các vi xử lý CISC vẫn tiếp tục phát triển mạnh. Mật độ mã và khả năng tích hợp của chúng tốt hơn, và chúng cho hiệu suất tốt hơn bằng các lệnh hỗ trợ bit manipulation, memory accesses, looping, decision trees,… Đôi khi chậm và chắc mới thật sự thắng trong cuộc đua.

lengocthuthao89 (i11c)

Tổng số bài gửi : 50
Join date : 13/09/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Phân biệt giữa thông dịch và Compilation

Bài gửi  dongocthien (I11C) on 13/9/2011, 01:22

1.Trình biên dịch: dịch mã nguồn ra mã máy để cho CPU(bộ vi xử lí) xử lí.Mỗi ngôn ngữ sẽ có 1 trình biên dịch riêng.Thí dụ java có trình biên dịch java. Khi một lập trình viên viết 1 chương trình máy tính xong thì anh ta cần phải biên dịch nó (file nguồn) ra mã máy(thường là file.exe) để chạy.
Tuy nhiên không phải bộ vi xử lí hay hệ điều hành nào cũng hiểu được mã máy mà trình biên dịch vừa dịch ra(hay nói cách khác là bộ xử lí hiểu được ngôn ngữ này nhưng lại không hiểu ngôn ngữ khác). Cho nên ta cần phải có trình thông dịch(đóng vai trò như 1 thông dịch viên) để diễn giải cho CPU (bộ xử lí) hiểu.

2.Trình thông dịch: sau khi bạn soạn thảo một chương trình bằng 1 ngôn ngữ lập trình nào đấy (mã nguồn), thì quá trình thông dịch là quá trình xảy ra lúc runtime, trình thông dịch sẽ dịch từng lệnh của chương trình bạn và thực thi. Lần sau muốn chạy lại chương trình thì phải thông dịch lại.

dongocthien (I11C)

Tổng số bài gửi : 51
Join date : 27/08/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 3

Bài gửi  HoiHoangHongVu I11C on 13/9/2011, 08:01

NguyenHuuHung(I11C) đã viết:
DaoQuangSieu (I11C) đã viết:Remote Desktop cung cấp truy cập cho việc truy cập từ một máy tính nội hạt chạy hệ điều hành Windows XP cho đến bất cứ một máy tính ở xa . Remote Desktop trong Windows XP là phiên bãn mở rộng của Terminal Service Windows 2000 . Remote Desktop trên Windows XP thực hiện việc truy cập từ xa từ một máy tính nội hạt đến máy tính ở xa ở bất kỳ nơi nào trên thế giới . Sử dụng Remote Desktop bạn có thể kết nối đến mạng máy tính văn phòng và truy cập đến tất cã các ứng dụng của bạn . Remote Desktop là nền tảng của Terminal Service .

Remote Desktop bao gồm các phần sau :
- Giao thức Remote Desktop
- Phần mềm Client : Remote Desktop Connection và Remote Desktop Web Connection

Tóm lại khi sử dụng Remote Desktop bạn phải làm như sau :

- Bật Remote Desktop trong Windows XP Professional
- Kích hoạt người dùng để kết nối với máy tính ở xa chạy hệ điều hành Windows XP Professional .
- Cài đặt phần mềm Remote Desktop Connection cho máy tính Client
- Cài đặt Remote Desktopm Web Connection (nếu máy tính Client không chạy hệ điều hành Windows XP)

Bật Remote Desktop trong Windows XP Professional

Khi bạn cài đặt Windows XP , Remote Desktop mặc định được vô hiệu hóa (tắt) . Bạn cần bật Remote Desktop trước khi bạn có thể sử dụng nó để kết nối máy tính từ xa .
Đăng nhập vào quyền Administrator
Nhấn chuột phải vào MyComputer chọn Properties . Trong System Properties bạn chọn thanh Remote chọn mục Allow users to connect remotely to this computer . Logoff hoặc khởi động lại máy tính .

Cho phép người dùng kết nối đến máy tính chạy Windows XP Professional

Để truy cập từ xa máy tính Windows XP của bạn , bạn phải là thành viên của nhóm Administrator hoặc nhóm Remote Desktop Users . Trong Windows XP bạn có thể thêm một hay nhiều người dùng đến nhóm Remote Desktop Users . Thêm người dùng vào nhóm Remote Desktop Users
Đăng nhập vào máy tính Windows XP với quyền Administrator .
Nhấn chuột phải vào MyComputer chọn Properties . Trong System Properties chọn Properties . chọn tiếp Remote . Chọn Select Remote Users .
Trong hộp thoại Remote Desktop Users nhấn Add . trong hộp thoại Select Users , ở mục Name bạn nhập User mà bạn muốn thêm vào

Chọn một người dùng nào đó mà bạn muốn thêm vào và nhấn OK .
Cài đặt phần mềm cho Client . Để thiết lập Remote Desktop Client việc đầu tiên cần cài đặt Remote Desktop Connection (hoặc Terminal Services Client) . Máy tính của bạn có thể kết nối với máy tính từ xa bằng mạng LAN , WAN , kết nối dialup hoặc kết nối Internet .
Chào bạn!
Đọc suốt cả bài của bạn tôi không thấy bạn nói đến phương thức mở port (cổng) cho remote desktop trên Modem (hoặc router) do đó mặc định bạn chỉ có thể connect Remote desktop qua LAN, còn qua WAN thì chưa được.
Thứ hai, cái chỗ tôi bôi đậm trên bài viết của bạn mà tôi Quote lại đó, không biết bạn xài phần mềm remote gì, nhưng mặc định windows xp, windows server 2003, windows 7 đã cài đặt sẵn Remote desktop connection trên windows, không phải cài thêm phần mềm gì cho Client nữa nhé.
Mình đồng tình với ý kiến của bạn. Cần phải mở port cho remote destop. Còn các phần mềm remote khác như team hay log theo mình biết thì ko cần. thanks bạn

HoiHoangHongVu I11C

Tổng số bài gửi : 37
Join date : 26/08/2011
Đến từ : Biên Hòa - Đồng Nai

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Quản lý tiến trình

Bài gửi  NgoThiCamNhung47 (I11C) on 13/9/2011, 08:18

1. Cấu trúc dữ liệu khối quản lý tiến trình
Hệ điều hành quản lý các tiến trình trong hệ thống thong qua khối quản lý tiến trình (process control block PCB). PCB là một vùng nhớ lưu trữ các thông tin mô tả cho tiến trình, với các thành phần chủ yếu bao gồm:
- Định danh của tiến trình (1): xác định hoạt động hiện hành của tiến trình.
- Trạng thái tiến trình (2): xác định hoạt động hiện hành của tiến trình.
- Ngữ cảnh của tiến trình (3): mô tả các tài nguyên tiến trình đang trong quá trình, hoặc để phục vụ cho hoạt động hiện tại, hoặc để làm cơ sở phục hồi hoạt động cho tiến trình, bao gồm các thông tin về:
o Trạng thái CPU: bao gồm nội dung các thanh ghi, quan trọng nhất là con trỏ lệnh IP lưu trữ địa chỉ câu lệnh kế tiếp tiến trình sẽ xử lí. Các thông tin này cần được lưu trữ khi xảy ra 1 ngắt nhằm có thể cho phép phục hồi hoạt động của tiến trình đúng như trước khi bị ngắt.
o Bộ xử lí: dùng cho máy có nhiều CPU, xác định số hiệu CPU mà tiến trình đang sử dụng.
o Bộ nhớ chính: danh sách các khối nhớ được cấp cho tiến trình.
o Tài nguyên sử dụng: danh sách các tài nguyên hệ thống mà tiến trình đang sử dụng.
o Tài nguyên tạo lập: danh sách các tài nguyên được tiến trình tạo lập.
- Thông tin giao tiếp (4): phản ánh các thông tin về quan hệ của tiến trình với các tiến trình khác trong hệ thống:
o Tiến trình cha: tiến trình tạo lập tiến trình này.
o Tiến trình con: các tiến trình do tiến trình này tạo lập.
o Độ ưu tiên: giúp bộ điều pghoois có thông tin để lựa chọn tiến trình được cấp CPU.
- Thông tin thống kê (5): đây là những thông tin thống kê về hoạt động của tiến trình, như thời gian đã sử dụng CPU, thời gian chờ. Các thông tin này có thể có ích cho công việc đánh giá tình hình hệ thống và dự đoán các tình huống tương lai.

Hình: Khối mô tả tiến trình
2. Thao tác trên tiến trình
Hệ điều hành cung cấp các thao tác chủ yếu sau đây trên một tiến trình:
- Tạo lập tiến trình (Create)
- Kết thúc tiến trình (Destroy)
- Tạm dừng tiến trình (Suspend)
- Tái kích hoạt tiến trình (Resume)
- Thay đổi độ ưu tiên tiến trình
Tạo lập tiến trình:
Trong quá trình xử lý một tiến trình có thể tạo lập nhiều tiến trình mới bằng cách sử dụng một lới gọi hệ thống tương ứng. tiến trình gọi lời gọi hệ thống để tạo tiến trình mới sẽ được gọi là tiến trình cha, tiến trình được tạo gọi là tiến trình con. Mỗi tiến trình con đến lượt nó lại có thể tạo các tiến trình mới … quá trình này tiếp tục sẽ tạo ra một cây tiến trình



Hình: Một cây tiến trình trong hệ thống UNIX

Các công việc hệ điều hành cần thực hiện khi tạo lập tiến trình bao gồm:
- Định danh cho tiến trình mới phát sinh
- Đưa tiến trình vào danh sách quản lý của hệ thống
- Xác định độ ưu tiên cho tiến trình
- Tạo PCB cho tiến trình
- Cấp phát các tài nguyên ban đầu cho tiến trình
Khi một tiến trình tạo lập một tiến trình con, tiến trình con có thể sẽ được hệ điều hành trực tiếp cấp phát tài nguyên hoặc được tiến trình cha cho thừa hưởng một số tài nguyên ban đầu.
Khi một tiến trình tạo lập một tiến trình mới, tiến trình ban đầu có thể xử lý theo một trong hai khả năng sau:
Tiến trình cha tiếp tục xử lý đồng hành với tiến trình con.
Tiến trình cha chờ đến khi một tiến trình con nào đó, hoặc tất cả các tiến trình con kết thúc xử lý.
Các hệ điều hành khác nhau có thể chọn lựa các cài đặt khác nhau để thực hiện thao tác tạo lập một tiến trình.

Kết thúc tiến trình
Một tiến trình kết thúc xử lý khi nó hoàn tất chỉ thị cuối cùng và sử dụng một lời gọi hệ thống để yêu cầu hệ điều hành hủy bỏ nó. Đôi khi một tiến trình có thể yêu cầu hệ điều hành kết thúc xử lý của một tiến trình khác. Khi một tiến trình kết thúc, hệ điều hành thực hiện các công việc:
- Thu hồi các tài nguyên hệ thống đã cấp phát cho tiến trình
- Hủy tiến trình khỏi tất cả các danh sách quản lý của hệ thống
- Hủy bỏ PCB của tiến trình
Hầu hết các hệ điều hành không cho phép các tiến trình con tiếp tục tồn tại nếu tiến trình cha đã kết thúc. Trong những hệ thống như thế hệ điều hành sẽ tự động phát sinh 1 loạt các thao tác kết thúc tiến trình con.


NgoThiCamNhung47 (I11C)

Tổng số bài gửi : 5
Join date : 26/08/2011
Age : 28

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

LỢI ÍCH CỦA MÁY ẢO

Bài gửi  DoThuyTien16 (I11C) on 13/9/2011, 10:09

LỢI ÍCH CỦA MÁY ẢO
Cài đặt:
Mặc dù khái niệm máy ảo là hữu ích nhưng rất khó cài đặt. nhiều công việc được yêu cầ cung câp một bản so chính xác của máy bên dưới. máy bên dưới có hai chế độ: chế độ người dùng và chế độ kiểm soát. Phần mềm máy ảo có thể chạy trong phần mềm kiểm soát vì nó là hệ điều hành. Chính máy ảo có thể thực thi chỉ trong chế độ người dùng. Tuy nhiên, chỉ khi máy vật lý có hai chế độ thì nó mới là máy ảo. do đó, chúng ta phải có một chế độ người dùng ảo và một chế độ kiểm soát ảo. cả hai đều chạy trong chế độ người dùng vật lý. Các hoạt động đó gây ra từ sự chuyển từ chế độ người dùng tới chế độ kiểm soát trên một máy thật(như lời gọi hệ thồng hay cố gằng thực thi một chỉ thị được cấp quyền) cũng phải gây ra sự chuyển đổi từ chế độ người dùng ảo tới chế độ kiểm soát ảo trên một máy ảo.

Lợi ích:
• Có hai lợi ích chính trong việc sử dụng máy ảo. thứ nhất, bằng cách bảo vệ hoàn toàn các tài nguyên hệ thống, máy ảo cung cấp mức độ bảo mật cao. Thứ hai, máy ảo cho phép phát triển hệ thống được thực hiện mà không cần phá vỡ hoạt động hệ thống thông thường.

• Mổi máy ảo hoàn toàn bị cô lập từ các máy ảo khác, vì thế chúng ta không găp phải bất kỳ vấn đề bảo mật nào như tài nguyên hệ thống khác hoàn toàn được bào vệ. thí dụ, các ứng dụng không được tin cậy được tải về từ Internet có thể được chạy trng một máy ảo riêng. Một bất lợi của môi trường này là không có sự chia sẻ tài nguyên trưc tiếp. hai tiếp cận cung cấp sự chia sẻ được cài đặt. thứ nhất có thể chia sẻ một đĩa nhỏ. Cơ chế này được làm mẫu sau một đĩa được chia sẻ vật lý. Thứ hai có thể định nghĩa một mảng của các máy ảo, mỗi máy ảo có thể gửi thông tin qua các mạng giao tiếp này nhưng nó được cài đặt bằng phần mềm.

• Những hệ thống máy ảo như thế là một phương tiện truyền thông hữu hiệ cho việc nghiên cứu và phát triể hệ điều hành. Hông thường , thay đổi một HDHlà mộ tác vụ khó. Vì các HDH là một chương trình lớn và phức tạp, sự thay đổi trên một phần này có thể gây một lỗi khó hiểu trong các phần khác. Sức mạnh của HDH làm cho trường hợp này cựa kì nguy hiểm. vì HDH thực thi trong chế độ kiểm soát, một thay đổi sai trong một con trỏ có thể gây lỗi và có thể phá hủy tòa hệ thống tập tin. Do đó, cần phải kiểm tra tất cả thay đổi của HDH một cách cẩn thận.

• Tuy nhiên, HDH chạy trên máy và điều khiển hàn toàn máy đó. Do đó, hệ thống hiện hành phải bị dừng và ngừng việc sử dụng trong khi những thay đổi được thực hiện và kiểm tra. Thời điểm này thường được gọi là thời gian phát triển hệ thống. vì nó làm cho hệ thống không sẵn dùng với người sử dụng nên thời gian phát triển hệ thống thường được lập thời biểu vào buổi tối hay cuối tuần, khi tải hệ thống thấp.

• Một hệ thống máy ào có thể loại trừ nhiều vấn đề này. Người lập trình hệ thống được cung cấp chính máy ảo của họ, và phát triển hệ thống được thực hiện trên máy ảo thay vì trên máy vật lý thật sự. một HDH thông thường ít khi bị phá vỡ vì phát triển hệ thống. mặc dù những thuận lợi này, nhưng rất ít cải tiến trên kỹ thuật này được thực hiện gân đây.


DoThuyTien16 (I11C)

Tổng số bài gửi : 15
Join date : 26/08/2011
Age : 28
Đến từ : Lâm Đồng

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 3

Bài gửi  NguyenVietThuan11 on 13/9/2011, 10:39

nguyenthithuylinh (I11C) đã viết:
vohongcong(I111C) đã viết:Ví dụ thông dịch : Khi ngoại giao giữa cơ quan nhà nước với người nước ngoài ta cần một thông dịch viên để dịch những câu của nước ngoài nói chuyện với ta.Đó gọi là thông dịch.

Ví dụ về biên dịch: ta dịch một cuốn sách tiếng nước ngoài sang tiếng việt thì gọi đó là biên dịch

Mình cũng đóng góp một cái VD về thông dịch và biên dịch.

VD:
*Thông dịch:khi ta dùng “google dịch” thì ta đánh vào từ nào nó sẽ dịch ra cho ta từ đó luôn,ta không cần phải nhấn nút “dịch”.
* Biên dịch:khi ta viết chương trình trên Visual C++ sau khi viết xong ta phải nhấn phím F5 thì chương trình mới chạy.

Thông dịch đơn giản là dịch liên tục, tới đâu, dịch tới đó.
Biên dịch là phải gom tất cả những gì liên quan tới nhau và dịch 1 lần
avatar
NguyenVietThuan11

Tổng số bài gửi : 34
Join date : 30/08/2011
Age : 28
Đến từ : Đồng Nai

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Phân Biệt Remote Destop và Share Destop

Bài gửi  chauchanduong (I11C) on 13/9/2011, 10:52

Remote Destop Share Destop
- Cung cấp truy cập cho việc truy cập từ một máy tính nội hạt chạy hệ điều hành Windows XP cho đến bất cứ một máy tính ở xa .
- Remote Desktop trong Windows XP là phiên bãn mở rộng của Terminal Service Windows 2000 .
- Remote Desktop trên Windows XP thực hiện việc truy cập từ xa từ một máy tính nội hạt đến máy tính ở xa ở bất kỳ nơi nào trên thế giới .
- Sử dụng Remote Desktop bạn có thể kết nối đến mạng máy tính văn phòng và truy cập đến tất cã các ứng dụng của bạn .
- Remote Desktop là nền tãng của Terminal Service .

Remote Desktop bao gồm các phần sau :
- Giao thức Remote Desktop
- Phần mềm Client : Remote Desktop Connection và Remote Desktop Web Connection
-Truy cập máy tính trong mạng LAN và WAN.
-Web dựa trên công cụ cho phép truy cập từ bất cứ nơi nào trong mạng LAN.
-Tự động cài đặt các đại lý máy tính để bàn chia sẻ trong máy tính để bàn mỗi.
-Không có chứng thực cá nhân là yêu cầu để được truy cập đến một máy tính để bàn từ xa.
-Hỗ trợ xem / truy cập vào máy tính để bàn từ xa bằng cách sử dụng Active X và Java Plug-in.
-Nhắc nhở xác nhận người dùng trước khi cung cấp truy cập đến một máy tính để bàn từ xa.
-Hỗ trợ khóa bàn phím và chuột của người dùng khi truy cập từ xa. Người dùng cũng có thể được bôi đen màn hình để họ không nhận thức được những thay đổi bạn thực hiện.
-Khả năng gửi "CNT + Alt + Del" lệnh để truy cập vào một máy tính bị khóa.
-Khả năng chuyển đổi giữa các ứng dụng của người sử dụng bằng cách sử dụng "Alt + Tab" lệnh.
-Khả năng chuyển các tập tin từ xa trên máy.
-Sử dụng mã hóa 128-bit nâng cao tiêu chuẩn giao thức mã hóa (AES) trong các hoạt -động điều khiển từ xa.
-Multi-Monitor Hỗ trợ với các tùy chọn dễ dàng chuyển đổi.
-Cấu hình độ phân giải màn hình để phù hợp với kích thước màn hình.
avatar
chauchanduong (I11C)

Tổng số bài gửi : 18
Join date : 26/08/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 3

Bài gửi  nguyenthanhphuong(I11C) on 13/9/2011, 11:36

Remote Desktop cung cấp truy cập cho việc truy cập từ một máy tính nội hạt chạy hệ điều hành Windows XP cho đến bất cứ một máy tính ở xa . Remote Desktop trong Windows XP là phiên bãn mở rộng của Terminal Service Windows 2000 . Remote Desktop trên Windows XP thực hiện việc truy cập từ xa từ một máy tính nội hạt đến máy tính ở xa ở bất kỳ nơi nào trên thế giới . Sử dụng Remote Desktop bạn có thể kết nối đến mạng máy tính văn phòng và truy cập đến tất cã các ứng dụng của bạn . Remote Desktop là nền tãng của Terminal Service . Remote Desktop bao gồm các phần sau :
- Giao thức Remote Desktop
- Phần mềm Client : Remote Desktop Connection và Remote Desktop Web Connection
Tóm lại khi sử dụng Remote Desktop bạn phải làm như sau :
- Bật Remote Desktop trong Windows XP Professional
- Kích hoạt người dùng để kết nối với máy tính ở xa chạy hệ điều hành Windows XP Professional .
- Cài đặt phần mềm Remote Desktop Connection cho máy tính Client.
- Cài đặt Remote Desktopm Web Connection (nếu máy tính Client không chạy hệ điều hành Windows XP).

Bật Remote Desktop trong Windows XP Professional
Khi bạn cài đặt Windows XP , Remote Desktop mặc định được vô hiệu hóa (tắt) . Bạn cần bật Remote Desktop trước khi bạn có thể sử dụng nó để kết nối máy tính từ xa .
Đăng nhập vào quyền Administrator
Nhấn chuột phải vào MyComputer chọn Properties . Trong System Properties bạn chọn thanh Remote chọn mục Allow users to connect remotely to this computer . Logoff hoặc khởi động lại máy tính .

Cho phép người dùng kết nối đến máy tính chạy Windows XP Professional
Để truy cập từ xa máy tính Windows XP của bạn , bạn phải là thành viên của nhóm Administrator hoặc nhóm Remote Desktop Users . Trong Windows XP bạn có thể thêm một hay nhiều người dùng đến nhóm Remote Desktop Users .

Thêm người dùng vào nhóm Remote Desktop Users
Đăng nhập vào máy tính Windows XP với quyền Administrator . Nhấn chuột phải vào MyComputer chọn Properties . Trong System Properties chọn Properties . chọn tiếp Remote . Chọn Select Remote Users . Trong hộp thoại Remote Desktop Users nhấn Add . trong hộp thoại Select Users , ở mục Name bạn nhập User mà bạn muốn thêm vào. Chọn một người dùng nào đó mà bạn muốn thêm vào và nhấn OK . Cài đặt phần mềm cho Client . Để thiết lập Remote Desktop Client việc đầu tiên cần cài đặt Remote Desktop Connection (hoặc Terminal Services Client) . Máy tính của bạn có thể kết nối với máy tính từ xa bằng mạng LAN , WAN , kết nối dialup hoặc kết nối Internet .
Lưu ý : Terminal Services client sử dụng port 3389 TCP cho việc truyền thông với máy tính từ xa

nguyenthanhphuong(I11C)

Tổng số bài gửi : 18
Join date : 30/08/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Sử dụng Remote Desktop để truy cập vào các máy tính

Bài gửi  dongocthien (I11C) on 13/9/2011, 14:38

Nếu có một mạng gia đình hoặc văn phòng cỡ nhỏ với các máy tính được kết nối, khi đó chắc chắn bạn sẽ có ý định muốn có thể làm việc trên bất cứ máy tính nào. Trong bài này,giới thiệu cho các bạn cách sử dụng tính năng Remote Desktop trong Windows XP, Vista, và Windows 7để kết nối các máy tính trên mạng
Nếu có một mạng gia đình hoặc văn phòng cỡ nhỏ với các máy tính được kết nối, khi đó chắc chắn bạn sẽ có ý định muốn có thể làm việc trên bất cứ máy tính nào. Trong bài này,tôi sẽ giới thiệu cho các bạn cách sử dụng tính năng Remote Desktop trong Windows XP, Vista, và Windows 7để kết nối các máy tính trên mạng.



Lưu ý: Remote Desktop không phải một máy khách mà là một tính năng có trong phiên bản Home của hệ điều hành Windows.
Kích hoạt Remote Desktop trong Vista và Windows 7
Thứ đầu tiên bạn cần thực hiện để kích hoạt Remote Desktop trên máy tính Windows 7 hoặc Vista là kích phải vào biểu tượng Computer trên desktop hoặc từ menu Start và chọn Properties.
Sau đó kích liên kết Advanced system settings.

Kích tab Remote, bên dưới Remote Desktop chọn nút dưới cùng… Allow connections only from computers running Remote Desktop with Network Level Authentication (more secure).

Bạn cũng có thể chọn người dùng nào trên mạng có thể truy cập Remote Desktop.

Kích hoạt Remote Desktop trong XP
Việc kích hoạt Remote Desktop trong hệ điều hành XP về cơ bản cũng tương tự như vậy. Kích phải vào My Computer và chọn Properties, kích tab Remote, bên dưới phần Remote Desktop, kích vào hộp chọn bên cạnh Allow users to connect remotely to this computer.

Sử dụng Remote Desktop
Khi một đồng nghiệp hoặc một thành viên trong gia đình bạn cần trợ giúp, hoặc trong trường hợp bạn muốn làm việc trên các máy tính ở những vị trí khác mà không muốn đi đến mỗi máy này, khi đó bạn có thể điều khiển xa tới chúng. Sử dụng Remote Desktop và nhập vào tên hoặc địa chỉ IP của máy tính đó.

Thời gian đầu khi bạn kết nối từ xa (trong ví dụ, chúng tôi truy cập từ xa đến một home server), bạn có thể sẽ thấy màn hình bảo mật, trong màn hình này bạn có thể thiết lập để cho phép nó hiển thị lại trong lần truy cập sau hay không.

Khi đăng nhập, bạn cần đánh vào tên và mật khẩu trước khi kết nối.

Sau đó bạn có thể làm việc trên Windows Home Server từ một desktop trong phòng khách.

Đăng nhập vào máy tính Vista cũng hoàn toàn tương tự… nhập vào tên và mật khẩu của người dùng cho máy đó.

Sau đó bạn có thể bắt đầu làm việc trên máy tính Vista.

Ở đây chúng ta truy cập từ xa từ máy tính Windows 7 vào một máy tính Windows XP trong mạng gia đình, một thông báo bảo mật được hiển thị. Có một chút khác biệt so với khi đăng nhập từ xa vào máy chủ, tuy nhiên bạn cũng có thể thiết lập để thông báo này có xuất hiện trong lần kết nối sau hay không.

Làm việc trên laptop XP…

Các tùy chọn
Khi truy cập từ xa vào một máy tính, có một số tùy chọn mà có thể chọn trước khi bắt đầu để thay đổi trải nghiệm Remote Desktop. Bạn có thể trải nghiệm với các thiết lập này để tìm ra những gì tốt nhất với mình. Nếu đang muốn làm cho quá trình nhanh hơn, đặc biệt trên các phần cứng cũ, bạn hãy giảm kích thước hiển thị và màu sắc của kết nối từ xa. Có thể không được đẹp khi bạn thực hiện điều chỉnh này nhưng sẽ giúp bạn có được tốc độ nhanh hơn khi làm việc.

Khi bạn đăng nhâp vào máy tính khác, người dùng máy tính đó sẽ bị khóa ngoài.

Vì vậy bảo đảm cá nhân đang ngồi tại máy mà bạn truy cập từ xa đến không cố gắng đăng nhập vào hệ thống khi bạn truy cập, nếu họ làm vậy thì bạn sẽ bị đăng xuất ngay lập tức.

Kết luận
Qua những gì chúng tôi giới thiệu trong bài, chắc chắn các bạn đã biết được vai trò quan trọng của Remote Desktop như thế nào và nó có thể trợ giúp bạn ra sao. Tuy nhiên cần lưu ý Remote Desktop không phải tính năng host hay client trong các phiên bản Home của XP, Vista và Windows 7. Bạn có thể sử dụng Remote Desktop để khởi tạo một kết nối từ bất cứ phiên bản nào của Windows. nhưng không thể sử dụng nó để kết nối với các máy tính đang chạy các phiên bản Starter hoặc Home.

dongocthien (I11C)

Tổng số bài gửi : 51
Join date : 27/08/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Chức năng của Remote Desktop

Bài gửi  PhamDuyPhuong87(I11C) on 13/9/2011, 16:46

Remote desop là chức năng giúp cho người quản trị có thể điều khiển (quản trị máy tính từ xa ) thông qua môi trường mạng.
Remote Destop sử dụng giao thức RDP (Remote Destop Protocol) sử dụng cổng TCP 3389.
Để có thể sử dụng chức năng Remote Destop trên windows bạn cần thực hiện các bước sau:
1. Thực hiện việc enable chức năng Remote Destop.
2. Add các user được quyền thực hiện chức năng Remote Destop để quản trị máy tính từ xa.
Chú ý !
Trên các PC chạy các hệ điều hành destop client như XP, Vista hay Win 7 chỉ hỗ trợ 1 phiên remote destop. Twcs là tại một thời điểm chỉ có 1 người thực hiện được việc remote destop mà thôi.
Đối với các hệ điều hành windows server, việc remote destop được hô trợ nhiều hơn. Trên windows server 2003 server hỗ trợ nhiều phiên remote destop cùng một lúc (Hỗ trợ nhiều session khác nhau). Trên windows server 2008 thì không hỗ trợ session nữa, tức là không thể sử dụng 1 user để thực hiện vừa log on local vừa remote nữa. Muốn thực hiện nhiều phiên remote chúng ta cần thực hiện với các user khác nhau.
avatar
PhamDuyPhuong87(I11C)

Tổng số bài gửi : 23
Join date : 31/08/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Khái quát cấu trúc của hệ điều hành

Bài gửi  PhamDuyPhuong87(I11C) on 13/9/2011, 16:49

Hệ điều hành cung cấp một số dịch vụ. Tại cấp thấp nhất, lời gọi hệ thống cho phép một chương trình đang chạy thực hiện yêu cầu trực tiếp từ hệ thống. Tại cấp cao hơn, trình thông dịch cung cấp cơ chế cho người dùng đưa ra yêu cầu mà không viết chương trình. Các lệnh có thể xuất phát từ tập tin trong suốt thời gian thực thi theo chế độ xử lý theo lô, hay trực tiếp từ bàn phím trong chế độ tương tác hay chia sẻ thời gian. Các chương trình hệ thống được cung cấp để thoả mãn nhiều yêu cầu thông thường của người dùng.
Các loại yêu cầu khác nhau dựa theo cấp yêu cầu. Cấp gọi hệ thống phải cung cấp các chức năng cơ bản, như điều khiển quá trình, quản lý tập tin và thiết bị. Các yêu cầu cấp cao hơn được thoả mãn bởi trình thông dịch lệnh và chương trình hệ thống được dịch vào một chuỗi các lời gọi hệ thống. Các dịch vụ hệ thống có thể được phân cấp thành nhiều loại: điều khiển chương trình, yêu cầu trạng thái, yêu cầu nhập/xuất. Lỗi chương trình được xem xét các yêu cầu ẩn cho dịch vụ.
Một khi dịch vụ hệ thống được định nghĩa, cấu trúc của hệ điều hành được phát triển. Các bảng khác nhau cần được ghi thông tin định nghĩa trạng thái của hệ thống máy tính và trạng thái của công việc hệ thống.
Thiết kế một hệ điều hành mới là công việc rất quan trọng. Thiết kế hệ thống như thứ tự của các tầng hay sử dụng vi nhân được xem là một kỹ thuật tốt. Khái niệm máy ảo thực hiện tiếp cận phân tầng và xem nhân của hệ điều hành và phần cứng như là phần cứng của nó. Các hệ điều hành khác có thể được nạp trên đỉnh của máy ảo.
avatar
PhamDuyPhuong87(I11C)

Tổng số bài gửi : 23
Join date : 31/08/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Phân tích vai trò của các chương trình hệ thống trong hệ điều hành

Bài gửi  BuiHuuThanhLuan(I11C) on 13/9/2011, 19:39

Chương trình hệ thống là phần mềm giúp đỡ hệ thống máy tính hoạt động. Nhiệm vụ chính của phần mềm hệ thống là tích hợp, điều khiển và quản lý các phần cứng riêng biệt của hệ thống máy tính. Phần mềm hệ thống khác với phần mềm ứng dụng là nó không trực tiếp giúp đỡ người dùng. Phần mềm hệ thống được lưu trên các loại bộ nhớ không thay đổi được, như ghi lên chip, được gọi là phần sụn.(firmware).
Vai trò của phần mền hệ thống nhằm giúp người sử dụng:
  • Dễ dàng thao tác, sử dụng, và quản lý các dữ liệu trên phần cứng

  • Quản lý và kết nối với các thiết bị ngoại vi một cách tốt hơn,

  • Gửi và nhận các tín hiệu giữa các máy tính,

  • Quản lý các tiến trình hệ thống, giúp tối ưu hóa các hoạt động máy tính, sử dụng các tài nguyên một các hiệu quả,

  • Một số chương trình còn biện dịch ngôn ngữ máy ra ngôn ngữ người sử dụng như các chương trình biện dịch/ thông dịch … thông qua một giao diện thân thiện và dễ sử dụng hơn.

Ví dụ: Vai trò của một số chương trình trong thực tế
Chương trình Windows Explorer,Norton Comander: quản lý các tập tin/thư mục với các chức năng tạo mới, xóa bỏ, đổi tên, sao chép, di chuyển …
Chương trình duyệt web FireFox, Opera, Google Chrome … giúp gửi thộng điệp giữa máy chủ với các máy khách, giúp người sử dụng truy cập được internet.
Các chương Notepad, WordPad giúp người sử dụng chỉnh sửa nội dung tập tin, soạn thảo văn bản mới.


BuiHuuThanhLuan(I11C)

Tổng số bài gửi : 30
Join date : 30/08/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

giới thiệu VBScript

Bài gửi  tranvantoan83(I11c) on 13/9/2011, 20:15

Giới thiệu VBScript

VBScript là một ngôn ngữ lập trình được rút gọn và bổ sung thêm một số
chức năng từ ngôn ngữ Visual Basic.
VBScript chỉ có một kiểu dữ liệu duy nhất là Variant. Đây là kiểu dữ liệu đặc
biệt có thể lưu trữ bất kỳ các thông tin nào. VBScript tự động xác định vào thời
điểm này, thông tin đó thuộc loại nào dựa trên cách thức đoạn script sử dụng
chúng.
Xét trường hợp đơn giản nhất, kiểu Variant có thể lưu trữ số và chuỗi. Kiểu
Variant sẽ hành xử như kiểu dữ liệu số nếu đoạn script sử dụng chúng cho mục
đích tính toán. Và sẽ trở nên là chuỗi khi đoạn script có mục đích sử dụng
chuỗi.
Xét kỹ hơn, kiểu dữ liệu số, trong nhiều trường hợp, không chỉ đơn thuần
là một con số. Do các kiểu dữ liệu khác như ngày, thời gian, luận lý,... đều
được biểu diễn dưới dạng một con số. Kiểu Variant hoàn toàn có thể phân biệt,
chuyển đổi các kiểu dữ liệu với nhau tùy theo ngữ cảnh sử dụng. Sau đây là
các “kiểu dữ liệu con” mà kiểu Variant có thể lưu trữ.

Kiểu dữ liệu Mô tả
Empty Đây là kiểu dữ liệu của Variant khi mới được khởi tạo
Null Variant chứa một dữ liệu không hợp lệ
Boolean True/False
Byte Số nguyên 0-255
Integer Số nguyên
Long Long
...
Date(time) Ngày tháng
String Kiểu dữ liệu chuỗi
Object Đối tượng
Error Mã lỗi

Ngoài việc kiểu Variant tự động chuyển đổi giữa một số kiểu dữ liệu với
nhau. Bạn có thể dùng các hàm chức năng nhằm chuyển đổi một cách tường
minh giá trị trong kiểu Variant về kiểu dữ liệu mong muốn
avatar
tranvantoan83(I11c)

Tổng số bài gửi : 22
Join date : 25/08/2011
Age : 26

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 3

Bài gửi  BuiVanHoc(I11C) on 13/9/2011, 23:53

Bai viet hay lam:) thanks ban
DaoQuangSieu (I11C) đã viết:Remote Desktop cung cấp truy cập cho việc truy cập từ một máy tính nội hạt chạy hệ điều hành Windows XP cho đến bất cứ một máy tính ở xa . Remote Desktop trong Windows XP là phiên bãn mở rộng của Terminal Service Windows 2000 . Remote Desktop trên Windows XP thực hiện việc truy cập từ xa từ một máy tính nội hạt đến máy tính ở xa ở bất kỳ nơi nào trên thế giới . Sử dụng Remote Desktop bạn có thể kết nối đến mạng máy tính văn phòng và truy cập đến tất cã các ứng dụng của bạn . Remote Desktop là nền tảng của Terminal Service .

Remote Desktop bao gồm các phần sau :
- Giao thức Remote Desktop
- Phần mềm Client : Remote Desktop Connection và Remote Desktop Web Connection

Tóm lại khi sử dụng Remote Desktop bạn phải làm như sau :

- Bật Remote Desktop trong Windows XP Professional
- Kích hoạt người dùng để kết nối với máy tính ở xa chạy hệ điều hành Windows XP Professional .
- Cài đặt phần mềm Remote Desktop Connection cho máy tính Client
- Cài đặt Remote Desktopm Web Connection (nếu máy tính Client không chạy hệ điều hành Windows XP)

Bật Remote Desktop trong Windows XP Professional

Khi bạn cài đặt Windows XP , Remote Desktop mặc định được vô hiệu hóa (tắt) . Bạn cần bật Remote Desktop trước khi bạn có thể sử dụng nó để kết nối máy tính từ xa .
Đăng nhập vào quyền Administrator
Nhấn chuột phải vào MyComputer chọn Properties . Trong System Properties bạn chọn thanh Remote chọn mục Allow users to connect remotely to this computer . Logoff hoặc khởi động lại máy tính .

Cho phép người dùng kết nối đến máy tính chạy Windows XP Professional

Để truy cập từ xa máy tính Windows XP của bạn , bạn phải là thành viên của nhóm Administrator hoặc nhóm Remote Desktop Users . Trong Windows XP bạn có thể thêm một hay nhiều người dùng đến nhóm Remote Desktop Users . Thêm người dùng vào nhóm Remote Desktop Users
Đăng nhập vào máy tính Windows XP với quyền Administrator .
Nhấn chuột phải vào MyComputer chọn Properties . Trong System Properties chọn Properties . chọn tiếp Remote . Chọn Select Remote Users .
Trong hộp thoại Remote Desktop Users nhấn Add . trong hộp thoại Select Users , ở mục Name bạn nhập User mà bạn muốn thêm vào

Chọn một người dùng nào đó mà bạn muốn thêm vào và nhấn OK .
Cài đặt phần mềm cho Client . Để thiết lập Remote Desktop Client việc đầu tiên cần cài đặt Remote Desktop Connection (hoặc Terminal Services Client) . Máy tính của bạn có thể kết nối với máy tính từ xa bằng mạng LAN , WAN , kết nối dialup hoặc kết nối Internet .
avatar
BuiVanHoc(I11C)

Tổng số bài gửi : 32
Join date : 26/08/2011
Age : 33
Đến từ : Ho Chi Minh City

Xem lý lịch thành viên http://csc.com.vn

Về Đầu Trang Go down

So sanh diem khac biet giua remote desktop va teamview

Bài gửi  NguyenVanNam(I11C) on 14/9/2011, 08:02

Diem khac biet thu 1: Remote desktop co san tren window vi vay khi cai window chung ta co the su dung duoc khong can phai can mot phan mem khac ho tro.
Teamview thi phai down ve cai dat tren may va chi duoc su dung ban khong day du tinh nang cua teamview.
Diem khac biet thu 2: Do remote desktop co phan chon User nen ban co the gioi han user khi dang nhap vao may tinh. co the chi su dung khong duoc cai dat hay mot so van de khac ma user do gioi han.
con teamview thi ban remote duoc vao may tinh thi ban co the lam duoc moi thu khi window dang login vao user hien tai.
Diem khac biet thu 3: teamview de cai dat va de su dung hon la remote desktop vi khi su dung remote desktop ban phai co mot IP tinh hoac ban phai dang ky mot hostname con teamview thi khong can, ban chi can cai vao se co mot so ID va Pass do user define thi ban co the dang nhap vao.

Chac chan la se con nhieu uu diem va khuyet diem cua hai phan mem tren, neu ban nao biet thi chia se them cho moi nguoi biet nhe. Thanks

NguyenVanNam(I11C)

Tổng số bài gửi : 13
Join date : 27/08/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 3

Bài gửi  DuongTrungTinh(I11C) on 14/9/2011, 10:54

XuanThai_I11C đã viết:
vohongcong(I111C) đã viết:Windows Remote Desktop- một ứng dụng điều khiển máy tính từ xa mặc định khi cài Windows vẫn là công cụ đáp ứng tốt nhu cầu của người dùng Windows với đầy đủ các tính năng của một trình điều khiển PC từ xa. Để sử dụng được Windows Remote Destop, bạn cần phải bật công cụ này lên trong Windows. Điểm hạn chế của trình ứng dụng này là không hỗ trợ khả năng kết nối giữa các hệ điều hành với nhau.

Gần đây có không ít hãng phần mềm đã đưa công nghệ vốn chỉ dành cho người hỗ trợ của các hãng phần cứng sử dụng để trợ giúp cho người sử dụng. Nó trở thành một công nghệ đơn giản và an toàn để người dùng có thể giúp đỡ lẫn nhau ở vấn đề mà họ biết. Điển hình của sự đơn giản hóa trình Remote Desktop này có thể kể đến như TeamViewer, ShowMyPC…


Theo mình nên sử dụng Remote Desktop có tính bảo mật cao và nhanh hơn vì nó kết nối điểm với điểm không qua trung gian như Teamvier.Như vậy tính bảo mật ko còn đảm bảo nữa.


Theo như mình biết thì khi remote desktop vào một máy thì máy đó sẽ bị logoff(trừ trường hợp phải chỉnh sữa). còn với Team Viewer thì không bị logoff. như vậy khi bạn muốn hướng dẫn cho một ai đó gián tiếp để người đó thấy được các bước thực hiện thì sử dụng TeamViewer vẫn tốt hơn.
Nói chung là cũng phải tùy vào nhu cầu của công việc nữa. Không biết mình nói như vậy có phải không?

Câu hỏi của bạn rất hay, mình cững đang có thắc mắc giống bạn, có rất nhiều bạn đề cập đến vấn đề ưu và khuyêt điểm của Remote Desktop và TeamViewer. Nói Remote Desktop bảo mật, tích hợp sẵn trên windows , không cần cài đặt, ... nhưng theo thực tế hiện nay mình thấy đại đa số vẫn dùng TeamViewer và bản thân của mình cũng vậy. Tại sao? Vì mình thấy Teamviewer dễ sử dụng, không cần cấu hình quá phức tạp, không cần biết tên máy tính hay địa chỉ ip và port gì hết, chỉ cần hướng dẫn máy cần remote cài Teamviewer cung cấp thêm ID và pass là xong. Cái hay của Teamviewer là khi ta chiếm màn hình máy cần remote thì máy đó vẫn có thể theo dõi ( không bị logoff) mọi thao tác chúng ta đang làm (điều này rất thích hợp cho công tác hỗ trợ khách hàng từ xa) vì họ chỉ cần nhìn theo mình làm và sau này họ tự làm được và họ còn có thể theo dõi được mình đã và đang làm gì trên máy tính của họ. Teamviewer còn cho phép ta gửi file qua lại rất nhanh chóng và còn nhiều tiện ích khác mà Remote Desktop không thể có được. Bản thân tôi là một FAN của Teamviewer nên đối với tôi Teamviewer vẫn là công cụ số một hiện nay vì nó giúp ích cho tôi rất nhiều trong công tác chăm sóc Khách Hàng. Vài điều chia sẻ với các bạn.
Thân.

DuongTrungTinh(I11C)

Tổng số bài gửi : 31
Join date : 26/08/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Nguyên lý các hệ điều hành

Bài gửi  HoangNgocQuynh(I11C) on 14/9/2011, 10:57

Nguyên lý của hệ điều hành được hiểu như sau:
Hệ điều hành là một hệ thống các chương trình hoạt động giữa người sử dụng (user) và phần cứng của máy tính. Mục tiêu của hệ điều hành là cung cấp một môi trường để người sử dụng có thể thi hành các chương trình. Nó làm cho máy tính dễ sử dụng hơn, thuận lợi hơn và hiệu quả hơn. Hệ điều hành là một phần quan trọng của hầu hết các hệ thống máy tính. Một hệ thống máy tính thường được chia làm bốn phần chính : phần cứng, hệ điều hành, các chương trình ứng dụng và người sử dụng.

HoangNgocQuynh(I11C)

Tổng số bài gửi : 28
Join date : 30/08/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Các dịch vụ của hệ điều hành

Bài gửi  HoangNgocQuynh(I11C) on 14/9/2011, 11:07

Hệ điều hành cung cấp một môi trường để thi hành các chương trình, bằng cách cung cấp các dịch vụ cho chương trình và cho người sử dụng. Các dịch vụ này trên mỗi hệ thống là khác nhau nhưng cũng có những lớp chung. Các dịch vụ này giúp cho các lập trình viên thuận tiện hơn và việc lập trình dể dàng hơn.

Thi hành chương trình : hệ thống phải có khả năng nạp chương trình vào bộ nhớ và thi hành nó. Chương trình phải chấm dứt thi hành theo cách thông thường hay bất thường (có lỗi).

Thao tác nhập xuất : Một chương trình thi hành có thể yêu cầu nhập xuất. Nhập xuất này có thể là tập tin hay thiết bị. Đối với thiết bị có một hàm đặc biệt được thi hành. Để tăng hiệu quả, người sử dụng không truy xuất trực tiếp các thiết bị nhập xuất mà thông qua cách thức do hệ điều hành cung cấp.

Thao tác trên hệ thống tập tin .

Thông tin : có nhiều tình huống một tiến trình cần trao đổi thông tin với một tiến trình khác. Có hai cách thực hiện: Một là thực hiện thay thế tiến trình trên cùng máy tính, hai là thay thế tiến trình trên hệ thống khác trong hệ thống mạng. Thông tin có thể được cài đặt qua chia xẻ bộ nhớ, hoặc bằng kỹ thuật chuyển thông điệp. Việc chuyển thông tin được thực hiện bởi hệ điều hành.

Phát hiện lỗi : hệ điều hành phải có khả năng báo lỗi. Lỗi xảy ra có thể do CPU, bộ nhớ, trong thiết bị nhập xuất. Đối với mỗi dạng lỗi, hệ điều hành sẽ có cách giải quyết tương ứng.

HoangNgocQuynh(I11C)

Tổng số bài gửi : 28
Join date : 30/08/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Vi Nhân (Microkernels)

Bài gửi  DuongTrungTinh(I11C) on 14/9/2011, 11:10

Khi hệ điều hành UNIX được mở rộng, nhân trở nên lớn và khó quản lý. Vào giữa những năm 1980, các nhà nghiên cứu tại đại học Carnegie Mellon phát triển một hệ điều hành được gọi là Match mà module hóa nhân dùng tiếp cận vi nhân (micro kernel). Phương pháp này định kiến trúc của hệ điều hành bằng xóa tất cả thành phần không quan trọng từ nhân và cài chúng như các chương trình cấp người dùng và hệ thống. Kết quả này làm cho nhân nhỏ hơn. Có rất ít sự nhất trí liên quan đến việc
quyết định dịch vụ nào nên để lại trong nhân và dịch vụ nào nên được cài đặt trong không gian người dùng. Tuy nhiên, thường thì các vi nhân điển hình cung cấp quá trình và quản lý bộ nhớ tối thiểu ngoài phương tiện giao tiếp.
Chức năng chính của vi nhân là cung cấp tiện nghi giao tiếp giữa chương trình khách hàng và các dịch vụ khác mà chúng đang chạy trong không gian người dùng. Giao tiếp được cung cấp bằng truyền thông điệp. Thí dụ, nếu chương trình khách hàng muốn truy xuất một tập tin, nó phải giao tiếp với trình phục vụ tập tin (file server). Chương trình người dùng và dịch vụ không bao giờ giao tiếp trực tiếp. Đúng hơn là chúng giao tiếp gián tiếp bằng cách truyền thông điệp với vi nhân.
Thuận lợi của tiếp cận vi nhân là dễ dàng mở rộng hệ điều hành. Tất cả dịch vụ mới được thêm tới không gian người dùng và do đó không yêu cầu phải hiệu chỉnh nhân. Kết quả là hệ điều hành dễ dàng hơn để chuyển đổi từ thiết kế phần cứng này sang thiết kế phần cứng khác. Vi nhân cũng cung cấp khả năng an toàn và tin cậy hơn vì hầu hết các dịch vụ đang chạy như người dùng –hơn là nhân- các quá trình. Nếu một dịch vụ bị lỗi, phần còn lại của hệ điều hành vẫn không bị ảnh hưởng. Một số hệ điều hành hiện đại dùng tiếp cận vi nhân. Tru64 UNIX (Digital UNIX trước đây) cung cấp giao diện UNIX tới người dùng, nhưng nó được cài đặt với nhân Mach. Nhân Mach ánh xạ các lời gọi hệ thống vào các thông điệp tới các dịch vụ cấp người dùng tương ứng. Hệ điều hành Apple MacOS Server được dựa trên cơ sở nhân Mach.
QNX là hệ điều hành thời thực cũng dựa trên cơ sở thiết kế vi nhân. Vi nhân QNX cung cấp các dịch vụ cho việc truyền thông điệp và định thời quá trình. Nó cũng quản lý giao tiếp mạng cấp thấp và các ngắt phần cứng. Tất cả dịch vụ khác trong QNX được cung cấp bởi các quá trình chuẩn chạy bên ngoài nhân trong chế độ người dùng.
Windows NT dùng một cấu trúc tổng hợp. Windows NT được thiết kế để chạy các ứng dụng khác nhau, gồm Win32 (ứng dụng thuần Windows), OS/2, và POSIX (Portable Operating System Interface for uniX). Nó cung cấp một server chạy trong không gian người dùng cho mỗi loại ứng dụng. Các chương trình khách hàng cho mỗi loại ứng dụng chạy trong không gian người dùng. Nhân điều phối việc truyền thông điệp giữa các ứng dụng khách hàng và server ứng dụng. Cấu trúc client-server của Windows NT được mô tả trong hình sau:

DuongTrungTinh(I11C)

Tổng số bài gửi : 31
Join date : 26/08/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Interpretion(thông dịch) và Compilation(biên dịch)

Bài gửi  TruongThiThuyPhi(I11C) on 14/9/2011, 11:12

Thong dich(Interpretion): là lúc chạy mới dịch và dịch ra từng lệnh .
Bien dich(Compilation ): là dịch ra tất cả các đối tượng rồi chạy.

Ưu và nhược điểm: ví dụ biên dịch giúp chương trình chạy nhanh hơn vì không cần dịch nữa, nhưng thông dịch vẫn tồn tại, ví dụ như web, thực tế là file văn bản trần, lúc load lên thì trình duyệt mới dich và load cho ta xem, hơn nữa 1 số chương trình hệ thống cần thiết phải thông dịch, hoặc trình debug cũng là thông dịch, nhưng thực tế thì cả 2 hình thức vẫn tồn tại song hành.
Hay có 1 ví dụ khác như: Compiler giống như một dịch thuật gia, giã sử ông ta dịch một cuốn sách từ English sang Vietnam, sau này một người không biết English vẫn có thể hiểu nội dung quyển sách bằng cách đọc quyển tiếng Việt do ông ta dịch.
Interpreter giống như là thông dịch viên, có một cuộc hôi thảo người báo cáo là người Anh, trong khi hầu hết người dự báo cáo là người việt không biết tiếng Anh thì sẽ cần đến một anh thông dịch viên, lần sau cũng có cuộc hội thảo tương tự như vậy, cùng chủ đề đó nhưng cũng cần đến anh thông dịch viên.

TruongThiThuyPhi(I11C)

Tổng số bài gửi : 17
Join date : 26/08/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 3

Bài gửi  HoangNgocQuynh(I11C) on 14/9/2011, 11:22

DaoQuangSieu (I11C) đã viết:Remote Desktop cung cấp truy cập cho việc truy cập từ một máy tính nội hạt chạy hệ điều hành Windows XP cho đến bất cứ một máy tính ở xa . Remote Desktop trong Windows XP là phiên bãn mở rộng của Terminal Service Windows 2000 . Remote Desktop trên Windows XP thực hiện việc truy cập từ xa từ một máy tính nội hạt đến máy tính ở xa ở bất kỳ nơi nào trên thế giới . Sử dụng Remote Desktop bạn có thể kết nối đến mạng máy tính văn phòng và truy cập đến tất cã các ứng dụng của bạn . Remote Desktop là nền tảng của Terminal Service .

Remote Desktop bao gồm các phần sau :
- Giao thức Remote Desktop
- Phần mềm Client : Remote Desktop Connection và Remote Desktop Web Connection

Tóm lại khi sử dụng Remote Desktop bạn phải làm như sau :

- Bật Remote Desktop trong Windows XP Professional
- Kích hoạt người dùng để kết nối với máy tính ở xa chạy hệ điều hành Windows XP Professional .
- Cài đặt phần mềm Remote Desktop Connection cho máy tính Client
- Cài đặt Remote Desktopm Web Connection (nếu máy tính Client không chạy hệ điều hành Windows XP)

Bật Remote Desktop trong Windows XP Professional

Khi bạn cài đặt Windows XP , Remote Desktop mặc định được vô hiệu hóa (tắt) . Bạn cần bật Remote Desktop trước khi bạn có thể sử dụng nó để kết nối máy tính từ xa .
Đăng nhập vào quyền Administrator
Nhấn chuột phải vào MyComputer chọn Properties . Trong System Properties bạn chọn thanh Remote chọn mục Allow users to connect remotely to this computer . Logoff hoặc khởi động lại máy tính .

Cho phép người dùng kết nối đến máy tính chạy Windows XP Professional

Để truy cập từ xa máy tính Windows XP của bạn , bạn phải là thành viên của nhóm Administrator hoặc nhóm Remote Desktop Users . Trong Windows XP bạn có thể thêm một hay nhiều người dùng đến nhóm Remote Desktop Users . Thêm người dùng vào nhóm Remote Desktop Users
Đăng nhập vào máy tính Windows XP với quyền Administrator .
Nhấn chuột phải vào MyComputer chọn Properties . Trong System Properties chọn Properties . chọn tiếp Remote . Chọn Select Remote Users .
Trong hộp thoại Remote Desktop Users nhấn Add . trong hộp thoại Select Users , ở mục Name bạn nhập User mà bạn muốn thêm vào

Chọn một người dùng nào đó mà bạn muốn thêm vào và nhấn OK .
Cài đặt phần mềm cho Client . Để thiết lập Remote Desktop Client việc đầu tiên cần cài đặt Remote Desktop Connection (hoặc Terminal Services Client) . Máy tính của bạn có thể kết nối với máy tính từ xa bằng mạng LAN , WAN , kết nối dialup hoặc kết nối Internet .


Mình trình bày thêm về Remote Desktop để các bạn có thể hiểu thêm một chút:
Remote desop là chức năng giúp cho người quản trị có thể điều khiển (quản trị máy tính từ xa ) thông qua môi trường mạng.
Remote Destop sử dụng giao thức RDP (Remote Destop Protocol) sử dụng cổng TCP 3389.
Để có thể sử dụng chức năng Remote Destop trên windows bạn cần thực hiện các bước sau:
1. Thực hiện việc enable chức năng Remote Destop.
2. Add các user được quyền thực hiện chức năng Remote Destop để quản trị máy tính từ xa.
Chú ý !
Trên các PC chạy các hệ điều hành destop client như XP, Vista hay Win 7 chỉ hỗ trợ 1 phiên remote destop. Đối với các hệ điều hành windows server, việc remote destop được hô trợ nhiều hơn. Trên windows server 2003 server hỗ trợ nhiều phiên remote destop cùng một lúc (Hỗ trợ nhiều session khác nhau). Trên windows server 2008 thì không hỗ trợ session nữa, tức là không thể sử dụng 1 user để thực hiện vừa log on local vừa remote nữa. Muốn thực hiện nhiều phiên remote chúng ta cần thực hiện với các user khác nhau.

HoangNgocQuynh(I11C)

Tổng số bài gửi : 28
Join date : 30/08/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Hệ thống bức tường lửa

Bài gửi  TruongThiThuyPhi(I11C) on 14/9/2011, 11:24

Với sự biến trướng ngày càng mạnh mẽ của các loại virus, spyware, malware,… như hiện nay thì người dùng rất cần một công cụ tường lửa bảo mật để thay thế bức tường lửa vốn đã quá lỗi thời hay gặp lỗi của Windows
Và Outpost Security Suite 2009 (OSS) có lẽ là phần mềm mà bạn nên thử qua nếu muốn một công cụ tường lửa an toàn.
http://3c.com.vn/Uploaded/hieuthien/...0thong-241.jpg

Cách sử dụng OSS rất đơn giản, sau khi cài đặt bạn có thể khai báo đăng ký sử dụng phần mềm để sử dụng mọi tính năng mà OSS cung cấp cho bạn.

+ Thẻ Firewall: giúp bạn thiết đặt chế độ bảo vệ bằng tường lửa một cách nhanh chóng. Khi muốn bật/tắt bạn chỉ cần chọn mục Firewall và nhấn vào lựa chọn Enable/Disable là xong, để thiết lập mức độ hoạt động của tường lửa, bạn nhấn vào nút Rulers Wizard trong mục Police, mức độ càng cao thì tính hiệu quả càng cao nhưng nó sẽ làm ảnh hưởng ít nhiều đến hệ thống kết nối của bạn. Bạn cũng có thể bật tính năng chống lại mọi sự tấn công bên ngoài trong mục Attack Detection, tại đây bạn cũng có thể điều chỉnh mức độ chống sự tấn công bên ngoài tại mục Security level bằng cách nhấn vào mục Optimal. Ngoài ra, bạn có thể xem thông tin về những tiện ích đang hoạt động có kết nối với Internet tại 2 nhánh con của thẻ này là Network Activity và Used Ports để theo dõi xem nếu có một tiện ích lạ hoạt động kết nối với bên ngoài mà bạn không biết

+ Thẻ Host Protection: giúp bảo vệ các kết nối được kích hoạt, từ đó giúp máy bạn tránh được sự tấn công mà các phần mềm độc hại (malware) gây ra nhằm kết nối với các trang web nguy hại ăn cắp thông tin máy tính của bạn. Cũng tương tự mục trên, bạn có thể kích hoạt tính năng này thông qua 2 lựa chọn Enable/Disable và thay đổi mức độ bảo vệ trong lựa chọn Advanced của mục Host protection level, hoặc tắt/mở tính năng bảo vệ toàn bộ hệ thống Self-Protection. Bên cạnh đó, chương trình cũng cho phép liệt kê những ứng dụng đang hoạt động giống như công cụ Task Manager của Windows nhưng nó liệt kê theo từng nhóm cụ thể một cách rõ ràng.

+ Thẻ Anti-Malware: đây là một trong những tính năng quan trọng mà OSS cung cấp cho người dùng. Mục Real-Time Protetion sẽ cho phép bạn kích hoạt tính năng bảo vệ hệ thống theo thời gian thực, nó sẽ luôn luôn hoạt động bảo vệ PC của bạn tránh mọi con mắt của malware hay spyware, tính năng này khá quan trọng nên bạn nên để nó luôn luôn hoạt động nếu hệ thống của bạn dư giả. Bên cạnh đó bạn cũng có thể thiết đặt tùy chọn mức độ bảo vệ tại mục Real-time Protetion level. Ngoài ra, khi muốn quét dọn hệ thống xem có nhiễm malware không bạn có thể nhấn vào nút Start System Scan… trong mục System Scan để tiến hành quét. Mục Quarantine sẽ liệt kê danh sách malware mà chương trình quét và phát hiện đưa vào. Đặc biệt chương trình còn có tính năng quét email gửi đến máy bạn có nhiễm malware hay không.
http://3c.com.vn/Uploaded/hieuthien/...0thong-242.jpg


+ Thẻ Web Control: trang bị cho bạn bộ công cụ bảo vệ quá trình duyệt web. Nó sẽ cho phép truy cập những website, tương tự bạn có thể bật/tắt tính năng bảo vệ thông qua lựa chọn Enable/Disable. Tại đây bạn có thể thiết lập chức năng lọc thư spam, nó tương thích với trình phổ biến hiện nay là MS Outlock và Windows Mail

Ngoài ra chương trình còn có nhiều ứng dụng cao cấp khác đang chờ bạn khám phá. Những điểm ưu việt mà Outpost Security Suite 2009 cung cấp cho bạn bao gồm:

+ Tạo một không gian lướt web tuyệt đối an toàn, chặn và bảo vệ nguy cơ làm tổn hại đến hệ thống của bạn trên cả mạng LAM và Internet thông thường

+ Với khả năng kiểm soát những chương trình chạy ẩn (vốn được xem là đối tượng mà các phần mềm độc hại nhắm đến), Outpost Security Suite 2009 sẽ giúp bạn tránh được các phần mềm gián điệp hoạt động với mục đích ăn cắp các thông tin cá nhân của người dùng.

+ Nếu bạn cảm thấy e dè với những loại spyware độc hại, có lẽ Outpost Security Suite 2009 cũng là một lựa chọn. Phần mềm sẽ tiến hành tiêu diệt các loại spyware phổ biến hiện nay và liên tục được hãng cập nhật cơ sở dữ liệu biến Outpost Security Suite 2009 trở thành một công cụ diệt spyware tuyệt vời.

+ Tính năng Web Control mà Outpost Security Suite 2009 cung cấp cho bạn cũng rất hữu ích. Bên cạnh việc giúp bạn tránh phải các trang web spam mà nó còn giúp bạn phòng ngừa các trang web đen, có thể sẽ khiến hệ thống của bạn bị tấn công bởi các hacker.

TruongThiThuyPhi(I11C)

Tổng số bài gửi : 17
Join date : 26/08/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 3

Bài gửi  NguyenVietThuan11 on 14/9/2011, 11:32

vohongcong(I111C) đã viết:Windows Remote Desktop- một ứng dụng điều khiển máy tính từ xa mặc định khi cài Windows vẫn là công cụ đáp ứng tốt nhu cầu của người dùng Windows với đầy đủ các tính năng của một trình điều khiển PC từ xa. Để sử dụng được Windows Remote Destop, bạn cần phải bật công cụ này lên trong Windows. Điểm hạn chế của trình ứng dụng này là không hỗ trợ khả năng kết nối giữa các hệ điều hành với nhau.

Gần đây có không ít hãng phần mềm đã đưa công nghệ vốn chỉ dành cho người hỗ trợ của các hãng phần cứng sử dụng để trợ giúp cho người sử dụng. Nó trở thành một công nghệ đơn giản và an toàn để người dùng có thể giúp đỡ lẫn nhau ở vấn đề mà họ biết. Điển hình của sự đơn giản hóa trình Remote Desktop này có thể kể đến như TeamViewer, ShowMyPC…


Theo mình nên sử dụng Remote Desktop có tính bảo mật cao và nhanh hơn vì nó kết nối điểm với điểm không qua trung gian như Teamvier.Như vậy tính bảo mật ko còn đảm bảo nữa.

Ngoài ra, còn có LogInMe, 1 trình điều khiển từ xa chạy trên nền web, không phải cài đặt gì nhiều sunny
avatar
NguyenVietThuan11

Tổng số bài gửi : 34
Join date : 30/08/2011
Age : 28
Đến từ : Đồng Nai

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 3

Bài gửi  Sponsored content


Sponsored content


Về Đầu Trang Go down

Trang 5 trong tổng số 8 trang Previous  1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8  Next

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết