Thảo luận Bài 5

Trang 1 trong tổng số 3 trang 1, 2, 3  Next

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

Thảo luận Bài 5

Bài gửi  Admin on 1/8/2011, 16:01

Thảo luận những vấn đề liên quan đến Bài 5

Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 292
Join date : 18/02/2009

Xem lý lịch thành viên http://hedieuhanh.forumvi.net

Về Đầu Trang Go down

Khái niệm về port và một số port thông dụng

Bài gửi  tranphanhieu36_i11c on 22/9/2011, 21:37

Những điều cần biết về Port:

- Port không phải là " cổng " để "chạy ra chạy vào" mà là một số hiệu ID cho 1 application nào đó.
- Mỗi Application chỉ có thể chạy trên một/nhiều port và mang tính độc quyền, không có Application khác được " chạy ké ".
- Chính vì tính độc quyền nên các Application có thể modify cho phép chạy một port khác với Port default. Ví dụ IIS/Apache làm web server có thể dùng 80 là default nhưng có thể đổi thành 81 82 83 v.v... tùy ý.
- Port cũng có phân chia làm Internal và External .
- Số hiệu từ 1->65535.

Mình xin nói về một số cổng thông dụng trong internet: (là cổng chuẩn mặc định, và được quy ước trong mạng), còn nếu mình muốn tự chỉ định port cũng được:


1.Cổng 80: Khi một người sử dụng địa chỉ IP hay HostName của các bạn trong bộ duyệt, bộ duyệt sẽ quan sát địa chỉ IP trên cổng 80 theo mặc định cho những trang Web.

2.Cổng 81: Khi một người sử dụng nhập địa chỉ IP hay HostName của các bạn trong bộ duyệt, bộ duyệt sẽ quan sát địa chỉ IP trên cổng 80. Nếu Cổng thì bị tắc nghẽn, Cổng 81 được sử dụng như một Cổng xen kẽ cho một website hosting nào đó.

3.Cổng 21: Khi người nào đó thử nối tới dịch vụ FTP của các bạn, khách hàng FTP sẽ cố gắng kết nối trên Cổng 21 theo mặc định. Thì cổng 21 mở cho những khách FTP đăng nhập và nối tới server của các bạn

4.Cổng 22: Nếu bạn chạy một SSH Secure Shell, cổng này được yêu cầu cho Khách hàng SSH để nối tới người phục vụ của các bạn.

5.Cổng 23 :Nếu bạn chạy một người phục vụ Telnet, cổng này được yêu cầu cho Khách hàng Telnet để nối tới người phục vụ của các bạn. Telnet có thể được sử dụng cho những cổng khác kiểm tra những công tác dịch vụ, nhưng để sử dụng telnet cho admin và đăng nhập từ xa thì cổng 23 phải mở.

6.Cổng 25: Khi người nào đó gửi một thư từ thông báo tới server SMTP của các bạn, thư từ sẽ cố gắng để đi vào tới server của các bạn trên Cổng 25. Đây là tiêu chuẩn SMTP (thủ tục vận chuyển Thư từ Đơn giản)

7.Cổng 2525: Khi người nào đó gửi một thư từ thông báo tới server SMTP của bạn, thư từ sẽ để đi vào tới server của các bạn trên Cổng 25. Cổng 2525 xen kẽ được dùng bởi TZO cho những công tác lưu trữ và truyền lại. Đây là một cổng không tiêu chuẩn, nhưng sẻ hữu ích nếu SMTP (thủ tục vận chuyển Thư từ Đơn giản) bị tắc nghẽn

8.Cổng 110: Khi bạn chạy một máy tính, những người sử dụng sẽ vào theo đường POP3 (Nghi thức cơ quan bưu điện) hay IMAP4 (giao thức truy nhập Thông báo Internet) khôi phục thư từ của họ. POP3 là nghi thức tốt nhất để truy nhập những hòm thư

9.Cổng 119: Khi bạn chạy một server Tin tức, điển hình những khách hàng Tin tức muốn nối tới người phục vụ Tin tức của các bạn sẽ nối trên cổng 119. Cái này chuyển những nhu cầu để mở để chạy server tin tức của mình.

10.Cổng 3389: Chuyển 3389 Là Máy để bàn Từ xa được sử dụng cho Windows. Nếu bạn muốn từ xa kết nối tới máy tính của các bạn để điều khiển từ xa, việc sử dụng máy để bàn Từ xa freeXP yêu cầu cổng 3389 để mở.

11.Cổng 389 : LDAP hay giao thức truy nhập Thư mục Lightweight đang trở nên phổ biến chúng cho sự Truy nhập Thư mục, hay Tên, điện thoại Gửi những Thư mục. Chẳng hạn
LDAP: // LDAP.Bigfoot. Com là một người phục vụ thư mục LDAP.

12.Cổng 143 : IMAP4 hay giao thức truy nhập Thông báo Internet đang trở nên phổ biến hơn và được sử dụng khôi phục Thư từ Internet từ một server từ xa. từ đó tất cả các thông báo đều được cất giữ trên server, Nó dễ dàng trực tuyến, ngoại tuyến và sự sử dụng offline

13.Cổng 443 : Khi bạn chạy một người phục vụ an toàn, những Clients SSL muốn nối tới những server An toàn ,các bạn nối trên cổng 443. Những cổng này được cần để mở để chạy …..

14.Cổng 1503 & 1720 :MS NetMeeting và VOIP cho phép bạn tới host Internet hay gọi là VideoConference. NetMeeting là một sản phẩm tự do mà có thể là được tìm thấy trên Website Microsoft Tại địa chỉ http: // www.microsoft.com /

15.Cổng 5590: Khi bạn chạy một Server VNC để từ xa kiểm soát PC của các bạn, nó sử dụng cổng 5900. VNC sẻ hữu ích nếu bạn muốn từ xa kiểm soát server của các bạn../

16.Cổng 5631: Khi một người phục vụ PCAnywhere được thiết lập nhận được những yêu cầu từ xa, nó tiếp tục nghe TCP cổng 5631. Hostand được cho phép bạn để chạy một PCAnywhere, PCAnywhere này sử dụng Internet để nối với nhau và từ xa kiểm soát PC của các bạn.

17. Cổng 1433: là cổng thông dụng của SQL sever

18. Cổng 23: là cổng thông dụng của telnet

19. Về mail nếu sử dụng Webmail (HTTP) vẫn là: 80
-POP3: 110, POP (SSL):995
-SMTP: 25, SMTP (SSL):465

Như các bạn đã biết thì mỗi port sẽ đi với 1 ứng dụng tương ứng,các quản trị mạng nên nắm rõ các port để biết được dịch vụ nào đang chạy trên mạng của mình để xử lý như chặn hoặc mở port tương ứng cho dịch đó.



Nếu các bạn muốn tìm hiểu thêm thì có thể tham khảo thêm rất nhiều port khác ở đây http://blog.yume.vn/xem-blog/tong-hop-cac-port-thong-dung


tranphanhieu36_i11c

Tổng số bài gửi : 31
Join date : 25/08/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Thảo luận TCP và UDP

Bài gửi  tranphanhieu36_i11c on 22/9/2011, 22:33

Mình xin nói sơ qua về giao thức TCP và UDP, bạn nào học theo hướng mạng thì sẽ được tìm hiểu kỹ hơn về 2 giao thức này :

1.Giao thức điều khiển truyền dữ liệu TCP (Transmission Control Protocol )
TCP là một giao thức "có liên kết" (connection - oriented), nghĩa là cần phải thiết lập liên kết giữa hai thực thể TCP trước khi chúng trao đổi dữ liệu với nhau. Một tiến trình ứng dụng trong một máy tính truy nhập vào các dịch vụ của giao thức TCP thông qua một cổng (port) của TCP. Số hiệu cổng TCP được thể hiện bởi 2 bytes.

Cổng truy nhập dịch vụ TCP

Một cổng TCP kết hợp với địa chỉ IP tạo thành một đầu nối TCP/IP (socket) duy nhất trong liên mạng. Dịch vụ TCP được cung cấp nhờ một liên kết logic giữa một cặp đầu nối TCP/IP. Một đầu nối TCP/IP có thể tham gia nhiều liên kết với các đầu nối TCP/IP ở xa khác nhau. Trước khi truyền dữ liệu giữa 2 trạm cần phải thiết lập một liên kết TCP giữa chúng và khi không còn nhu cầu truyền dữ liệu thì liên kết đó sẽ được giải phóng.

Các thực thể của tầng trên sử dụng giao thức TCP thông qua các hàm gọi (function calls) trong đó có các hàm yêu cầu để yêu cầu, để trả lời. Trong mỗi hàm còn có các tham số dành cho việc trao đổi dữ liệu.

-->Các bước thực hiện để thiết lập một liên kết TCP/IP: Thiết lập một liên kết mới có thể được mở theo một trong 2 phương thức: chủ động (active) hoặc bị động (passive).

-->Phương thức bị động, người sử dụng yêu cầu TCP chờ đợi một yêu cầu liên kết gửi đến từ xa thông qua một đầu nối TCP/IP (tại chỗ). Người sử dụng dùng hàm passive Open có khai báo cổng TCP và các thông số khác (mức ưu tiên, mức an toàn)

-->Với phương thức chủ động, người sử dụng yêu cầu TCP mở một liên kết với một một đầu nối TCP/IP ở xa. Liên kết sẽ được xác lập nếu có một hàm Passive Open tương ứng đã được thực hiện tại đầu nối TCP/IP ở xa đó.

Đơn vị dữ liệu sử dụng trong TCP được gọi là segment (đoạn dữ liệu), có các tham số với ý nghĩa như sau:


-->Source Por (16 bits): Số hiệu cổng TCP của trạm nguồn.

-->Destination Port (16 bit): Số hiệu cổng TCP của trạm đích.

-->Sequence Number (32 bit): số hiệu của byte đầu tiên của segment trừ khi bit SYN được thiết lập. Nếy bit SYN được thiết lập thì Sequence Number là số hiệu tuần tự khởi đầu (ISN) và byte dữ liệu đầu tiên là ISN+1.

-->Acknowledgment Number (32 bit): số hiệu của segment tiếp theo mà trạm nguồn đang chờ để nhận. Ngầm ý báo nhận tốt (các) segment mà trạm đích đã gửi cho trạm nguồn.

-->Data offset (4 bit): số lượng bội của 32 bit (32 bit words) trong TCP header (tham số này chỉ ra vị trí bắt đầu của nguồn dữ liệu).

-->Reserved (6 bit): dành để dùng trong tương lai

-->Control bit (các bit điều khiển):

-->URG: Vùng con trỏ khẩn (Ucgent Poiter) có hiệu lực.

-->ACK: Vùng báo nhận (ACK number) có hiệu lực.

-->PSH: Chức năng PUSH.

-->RST: Khởi động lại (reset) liên kết.

-->SYN: Đồng bộ hóa số hiệu tuần tự (sequence number).

-->FIN: Không còn dữ liệu từ trạm nguồn.

-->Window (16 bit): cấp phát credit để kiểm soát nguồn dữ liệu (cơ chế cửa sổ). Đây chính là số lượng các byte dữ liệu, bắt đầu từ byte được chỉ ra trong vùng ACK number, mà trạm nguồn đã saün sàng để nhận.

-->Checksum (16 bit): mã kiểm soát lỗi cho toàn bộ segment (header + data)

-->Urgemt Poiter (16 bit): con trỏ này trỏ tới số hiệu tuần tự của byte đi theo sau dữ liệu khẩn. Vùng này chỉ có hiệu lực khi bit URG được thiết lập.

-->Options (độ dài thay đổi): khai báo các option của TCP, trong đó có độ dài tối đa của vùng TCP data trong một segment.

-->Paddinh (độ dài thay đổi): phần chèn thêm vào header để đảm bảo phần header luôn kết thúc ở một mốc 32 bit. Phần thêm này gồm toàn số 0.

-->TCP data (độ dài thay đổi): chứa dữ liệu của tầng trên, có độ dài tối đa ngầm định là 536 byte. Giá trị này có thể điều chỉnh bằng cách khai báo trong vùng options.

2.Giao thức UDP (User Datagram Protocol)

UDP (User Datagram Protocol) là giao thức theo phương thức không liên kết được sử dụng thay thế cho TCP ở trên IP theo yêu cầu của từng ứng dụng. Khác với TCP, UDP không có các chức năng thiết lập và kết thúc liên kết. Tương tự như IP, nó cũng không cung cấp cơ chế báo nhận (acknowledgment), không sắp xếp tuần tự các gói tin (datagram) đến và có thể dẫn đến tình trạng mất hoặc trùng dữ liệu mà không có cơ chế thông báo lỗi cho người gửi. Qua đó ta thấy UDP cung cấp các dịch vụ vận chuyển không tin cậy như trong TCP.

Khuôn dạng UDP datagram được mô tả với các vùng tham số đơn giản hơn nhiều so với TCP segment.

UDP cũng cung cấp cơ chế gán và quản lý các số hiệu cổng (port number) để định danh duy nhất cho các ứng dụng chạy trên một trạm của mạng. Do ít chức năng phức tạp nên UDP thường có xu thế hoạt động nhanh hơn so với TCP. Nó thường được dùng cho các ứng không đòi hỏi độ tin cậy cao trong giao vận.

Mô hình quan hệ họ giao thức TCP/IP

Nhận xét chung về TCP Và UDP:
-TCP có kiểm soát lỗi-> an toàn hơn nhưng tốc độ lại chậm hơn còn UDP không kiểm soát lỗi ->không an toàn nhưng không cần kiểm soát lỗi nên tốc độ sẽ cao hơn
-UDP ít phức tạp hơn nhiều so với TCP nên hoạt động nhanh hơn TCP
-UDP hoạt động trong môi trường TCP/IP Internet lớn hơn thì thường xảy ra hỏng hóc
- Cả 2 giao thức này đều có những ưu điểm và khuyết điểm riêng. Tủy vào ứng dụng hay từng hoàn cảnh tê có thể lựa chọn khác nhau:
TCP :
- Dùng cho mạng WAN
- Không cho phép mất gói tin
- Đảm bảo việc truyền dữ liệu
- Tốc độ truyền thấp hơn UDP
UDP:
- Dùng cho mạng LAN
- Cho phép mất dữ liệu
- Không đảm bảo.
- Tốc độ truyền cao, VolP truyền tốt qua UDP

- Một số ứng dụng và chọn lựa thông thường của TCP, UDP:
TCP : FTP, Telnet, HTTP ..
UDP : TFTP, SNMP, ...

tranphanhieu36_i11c

Tổng số bài gửi : 31
Join date : 25/08/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Sự khác nhau giữa TCP và UDP

Bài gửi  VoMinhHoang (I11C) on 22/9/2011, 22:48

**TCP:
thì thiết lập sẵn mối liên kết giữa 2 máy trước khi truyền ( có kết nối )

**UDP:
Không phải thiết lập mối liên kết trước khi truyền, do đó dễ dàng liên lạc với nhiều máy cùng lúc nhưng không đảm bảo bằng TCP(không có kết nối).

ví dụ: giao thức TCP: từ điểm A sang điểm B nếu quy định đi bằng đường thẳng thì chỉ có một đường đi( ở đây ta có kết nối sẵn giữa 2 điểm A và B là đường thẳng). Giao thức UDP: Nếu không không buộc
avatar
VoMinhHoang (I11C)

Tổng số bài gửi : 26
Join date : 08/09/2011
Age : 32
Đến từ : Tp Tan An - Long An

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Sự liên lạc giữa các tiến trình (Interprocess Communications)

Bài gửi  VoMinhHoang (I11C) on 22/9/2011, 23:00

1. Nhu cầu liên lạc giữa các tiến trình

**Trong môi trường đa chương, một tiến trình không đơn độc trong hệ thống , mà có thể ảnh hưởng đến các tiến trình khác , hoặc bị các tiến trình khác tác động. Nói cách khác, các tiến trình là những thực thể độc lập , nhưng chúng vẫn có nhu cầu liên lạc với nhau để :
- Chia sẻ thông tin: nhiều tiến trình có thể cùng quan tâm đến những dữ liệu nào đó, do vậy hệ điều hành cần cung cấp một môi trường cho phép sự truy cập đồng thời đến các dữ liệu chung.
- Hợp tác hoàn thành tác vụ: đôi khi để đạt được một sự xử lý nhanh chóng, người ta phân chia một tác vụ thành các công việc nhỏ có thể tiến hành song song. Thường thì các công việc nhỏ này cần hợp tác với nhau để cùng hoàn thành tác vụ ban đầu, ví dụ dữ liệu kết xuất của tiến trình này lại là dữ liệu nhập cho tiến trình khác .Trong các trường hợp đó, hệ điều hành cần cung cấp cơ chế để các tiến trình có thể trao đổi thông tin với nhau.

2. Các vấn đề nảy sinh trong việc liên lạc giữa các tiến trình

**Do mỗi tiến trình sỡ hữu một không gian địa chỉ riêng biệt, nên các tiến trình không thể liên lạc trực tiếp dễ dàng mà phải nhờ vào các cơ chế do hệ điều hành cung cấp. Khi cung cấp cơ chế liên lạc cho các tiến trình, hệ điều hành thường phải tìm giải pháp cho các vấn đề chính yếu sau :
**Liên kết tường minh hay tiềm ẩn (explicit naming/implicit naming) : tiến trình có cần phải biết tiến trình nào đang trao đổi hay chia sẻ thông tin với nó ? Mối liên kết được gọi là tường minh khi được thiết lập rõ ràng , trực tiếp giữa các tiến trình, và là tiềm ẩn khi các tiến trình liên lạc với nhau thông qua một qui ước ngầm nào đó.
**Liên lạc theo chế độ đồng bộ hay không đồng bộ (blocking / non-blocking): khi một tiến trình trao đổi thông tin với một tiến trình khác, các tiến trình có cần phải đợi cho thao tác liên lạc hoàn tất rồi mới tiếp tục các xử lý khác ? Các tiến trình liên lạc theo cơ chế đồng bộ sẽ chờ nhau hoàn tất việc liên lạc, còn các tiến trình liên lạc theo cơ chế nonblocking thì không.
***Liên lạc giữa các tiến trình trong hệ thống tập trung và hệ thống phân tán: cơ chế liên lạc giữa các tiến trình trong cùng một máy tính có sự khác biệt với việc liên lạc giữa các tiến trình giữa những máy tính khác nhau?


Vì vậy, hầu hết các hệ điều hành đưa ra nhiều cơ chế liên lạc khác nhau, mỗi cơ chế có những đặc tính riêng, và thích hợp trong một hoàn cảnh chuyên biệt.


Được sửa bởi VoMinhHoang (I11C) ngày 23/9/2011, 12:09; sửa lần 3.
avatar
VoMinhHoang (I11C)

Tổng số bài gửi : 26
Join date : 08/09/2011
Age : 32
Đến từ : Tp Tan An - Long An

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 5

Bài gửi  XuanThai_I11C on 22/9/2011, 23:47

VoMinhHoang (I11C) đã viết:**TCP:
thì thiết lập sẵn mối liên kết giữa 2 máy trước khi truyền ( có kết nối )

**UDP:
Không phải thiết lập mối liên kết trước khi truyền, do đó dễ dàng liên lạc với nhiều máy cùng lúc nhưng không đảm bảo bằng TCP(không có kết nối).

ví dụ: giao thức TCP: từ điểm A sang điểm B nếu quy định đi bằng đường thẳng thì chỉ có một đường đi( ở đây ta có kết nối sẵn giữa 2 điểm A và B là đường thẳng). Giao thức UDP: Nếu không không buộc

Thanks bạn Hoàng nhiều và Mình xin bổ sung thêm về vấn đề trên.

TCP và UDP là 2 Protocol hoạt động ở lớp thứ 4 (Transport Layer) của mô hình OSI. Giải thich 1 cách dể hiểu sự khác nhau của 2 protocol này là :
TCP : Hy sinh tốc độ ===> đảm bảo độ "tin cậy" của gói tin truyền đi.
UDP : Ưu tiên tốc độ ====> không đảm bảo độ tin cậy của gói tin truyền đi
Do đó : ứng dụng của TCP,UDP vào các services có khác nhau,ví dụ :
+ TCP thường được ứng dụng vào : Email, File Sharing, Downloading ..
+ UDP : Voice streaming, Video streaming.

XuanThai_I11C

Tổng số bài gửi : 20
Join date : 10/09/2011
Age : 31

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 5

Bài gửi  NguyenQuangLuan44_(102C) on 23/9/2011, 00:04

Một số ứng dụng thông thường của TCP, UDP:
TCP : FTP, Telnet, HTTP ..
UDP : TFTP, SNMP, ...
1 số port mặc định của TCP. 21(FTP), 25(SMTP), 23(Telnet),53(DNS), 80(web), 443(SSL- Secure web)
1 số port UDP : 53(DNS), 161,162(SNMP), TFTP (69)..

NguyenQuangLuan44_(102C)

Tổng số bài gửi : 4
Join date : 17/02/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Socket

Bài gửi  PhamHuyHoang (I11C) on 23/9/2011, 00:21

Khái niệm: Một socket là một thiết bị truyền thông hai chiều tương tự như tập tin, chúng ta có thể đọc hay ghi lên nó, tuy nhiên mỗi socket là một thành phần trong một mối nối nào đó giữa các máy trên mạng máy tính và các thao tác đọc/ghi chính là sự trao đổi dữ liệu giữa các ứng dụng trên nhiều máy khác nhau.

Sử dụng socket có thể mô phỏng hai phương thức liên lạc trong thực tế : liên lạc thư tín (socket đóng vai trò bưu cục) và liên lạc điện thoại (socket đóng vai trò tổng đài) .

Các thuộc tính của socket:

Domaine: định nghĩa dạng thức địa chỉ và các nghi thức sử dụng. Có nhiều domaines, ví dụ UNIX, INTERNET, XEROX_NS, ...

Type: định nghĩa các đặc điểm liên lạc:
a) Sự tin cậy
b) Sự bảo toàn thứ tự dữ liệu
c) Lặp lại dữ liệu
d) Chế độ nối kết
e) Bảo toàn giới hạn thông điệp
f) Khả năng gởi thông điệp khẩn

Để thực hiện liên lạc bằng socket, cần tiến hành các thao tác ::

Tạo lập hay mở một socket

Gắn kết một socket với một địa chỉ

Liên lạc : có hai kiểu liên lạc tùy thuộc vào chế độ nối kết:

a) Liên lạc trong chế độ không liên kết : liên lạc theo hình thức hộp thư:

hai tiến trình liên lạc với nhau không kết nối trực tiếp

mỗi thông điệp phải kèm theo địa chỉ người nhận.

Hình thức liên lạc này có đặc điểm được :

người gởi không chắc chắn thông điệp của học được gởi đến người nhận,

một thông điệp có thể được gởi nhiều lần,

hai thông điệp đượ gởi theo một thứ tự nào đó có thể đến tay người nhận theo một thứ tự khác.

Một tiến trình sau khi đã mở một socket có thể sử dụng nó để liên lạc với nhiều tiến trình khác nhau nhờ sử hai primitive send và receive.

b) Liên lạc trong chế độ nối kết:

Một liên kết được thành lập giữa hai tiến trình. Trước khi mối liên kết này được thiết lập, một trong hai tiến trình phải đợi có một tiến trình khác yêu cầu kết nối.Có thể sử dụng socket để liên lạc theo mô hình client-serveur. Trong mô hình này, server sử dụng lời gọi hệ thống listen và accept để nối kết với client, sau đó , client và server có thể trao đổi thông tin bằng cách sử dụng các primitive send và receive.

Hủy một socket

Ví dụ :

Trong nghi thức truyền thông TCP, mỗi mối nối giữa hai máy tính được xác định bởi một port, khái niệm port ở đây không phải là một cổng giao tiếp trên thiết bị vật lý mà chỉ là một khái niệm logic trong cách nhìn của người lập trình, mỗi port được tương ứng với một số nguyên dương.

Hình 3.4 Các socket và port trong mối nối TCP.

Hình 3.4 minh họa một cách giao tiếp giữa hai máy tính trong nghi thức truyền thông TCP. Máy A tạo ra một socket và kết buộc (bind) socket nầy với một port X (tức là một số nguyên dương có ý nghĩa cục bộ trong máy A), trong khi đó máy B tạo một socket khác và móc vào (connect) port X trong máy A.

PhamHuyHoang (I11C)

Tổng số bài gửi : 13
Join date : 27/08/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

IPC

Bài gửi  PhamHuyHoang (I11C) on 23/9/2011, 00:31

Truyền thông giữa các quá trình IPC là một tập các kỹ thuật được dùng bởi các chương trình và các quá trình đang chạy trên hệ điều hành đa nhiệm, hay giữa các máy tính nối mạng. Có hai loại IPC. Loại LPC (local procedure call) được dùng trong hệ điều hành đa nhiệm cho phép các tác vụ đang chạy đồng thời trao đổi thông tin với nhau. Chúng có thể dùng chung không gian nhớ, đồng bộ các tác vụ và gửi thông điệp cho nhau. Loại RPC (remote procedure call) tương tự như LPC nhưng làm việc trên mạng. RPC cung cấp cơ cấu truyền thông cho khách hàng để truyền thông các yêu cầu cần phục vụ của họ đến server back-end. Nếu bạn nghĩ các ứng dụng client/server như một chương trình đã được chia thành các hệ thống front-end và back-end, thì RPC có thể được xem như một thành phần để tái hợp chúng trên mạng. Cơ chế truyền thông giữa các quá trình trong UNIX là pipe và cơ chế truyền thông giữa các quá trình trên mạng là socket. Socket cũng trở thành một phần của UNIX khi giao thức TCP/IP được tích hợp vào Berkeley UNIX đầu năm 1980. Đây là một đề án được tài trợ bởi DARPA. TỪ MỤC LIÊN QUAN API (Application Programming Interface); Middleware and Messaging; MOM (Message-Oreinted Middleware); Named Pipies; RPC (Remote Procedure Call); Sockets API; và WinSock

PhamHuyHoang (I11C)

Tổng số bài gửi : 13
Join date : 27/08/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Cách đổi Port mặc định của Remote desktop

Bài gửi  XuanThai_I11C on 23/9/2011, 10:43

Để đổi port mặc định của Remote desktop connection, ta làm như sau:
1. Open Registry Editor
2. Theo đường dẫn:
HKEY_LOCAL_MACHINE\System\CurrentControlSet\Contro l\TerminalServer\WinStations\RDP-Tcp\PortNumber

3. Trong menu edit, chọn modify, chọn decimal.
4. Gõ vào số port mới mà bạn muốn.
5. Restart Windows.
và xem kết quả Exclamation


XuanThai_I11C

Tổng số bài gửi : 20
Join date : 10/09/2011
Age : 31

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Tìm hiểu về Socket của CPU

Bài gửi  XuanThai_I11C on 23/9/2011, 10:55

Ngay từ những ngày đầu CPU của cả Intel và AMD đều đã có các kiểu socket và slot khác nhau, mục đích là chỉ sử dụng cho các bộ vi xử lý của họ.
Trong hướng dẫn này, chúng tôi sẽ liệt kê tất cả các socket và kiểu slot đã được phát hành cho đến thời điểm hiện nay cùng với các chân tương ứng của chúng và ví dụ về các CPU tương thích.

Trước kia, một socket CPU cần phải tương thích với một kiểu của bộ vi xử lý. Câu chuyện này đã thay đổi sau khi phát hành kiểu bộ vi xử lý 486 và sử dụng socket ZIF (Zero Insertion Force), cũng được biết đến với tên LIF (Low Insertion Force), thế hệ mới này có một mức để lắp đặt và gỡ bỏ CPU ra khỏi socket mà không cần người dùng hoặc kỹ thuật viên phải ấn CPU xuống để gắn nó vào socket. Sử dụng socket này đã giảm thiểu được rất nhiều rủi ro trong việc làm vỡ hoặc cong các chân của CPU khi lắp đặt hoặc gỡ bỏ nó. Sử dụng cấu trúc chân giống nhau bởi nhiều bộ vi xử lý đã cho phép người dùng hoặc các kỹ thuật viên có thể cài đặt các model bộ vi xử lý khác nhau trên cùng một bo mạch chủ, bằng cách gỡ bỏ CPU cũ và cài đặt vào đó cái mới. Rõ ràng bo mạch chủ cần phải tương thích với CPU mới vừa được cài đặt và cũng cần phải được cấu hình đúng.

Từ sau đó, cả Intel và AMD đã phát triển một loạt các socket và slot để có thể sử dụng CPU của họ.

Socket được sử dụng cùng với bộ vi xử lý 486 đầu tiên không phải là ZIF và cũng không cho phép bạn thay thế CPU bằng một model khác. Thậm chí socket này không có cả tên chính thức, chúng ta hãy gọi nó là socket 0. Sau socket 0, Intel đã phát hành socket 1, đây là kiểu socket có sơ đồ chân như socket 0 và thêm một chân khóa (key pin). Nó cũng được chấp thuận là chuẩn ZIF, chuẩn cho phép cài đặt một số kiểu bộ vi xử lý khác trên cùng một socket (nghĩa là trên cùng một bo mạch chủ). Các chuẩn socket khác đã được phát hành cho họ 486 sau socket 1 là socket 2, socket 3 và socket 6, mục đích nhằm để tăng số lượng các model CPU có thể được cài đặt trên socket CPU. Chính vì vậy, socket 2 chấp thuận cho các CPU mà được socket 1 chấp thuận cộng với một số model khác… Mặc dù socket 6 đã được thiết kế nhưng nó vẫn chưa bao giờ được sử dụng. Chính vì vậy chúng ta thường gọi sơ đồ chân đã được sử dụng bởi các bộ vi xử lý lớp 486 là “socket 3”. Intel đã gọi “hệ thống tăng tốc” là khả năng của một socket để chấp thuận nhiều hơn các model CPU. Intel cũng đã chấp thuận tên này cho các CPU sử dụng sơ đồ chân từ một CPU cũ, nhằm mục đích cho phép nó có thể cài đặt trên các bo mạch chủ cũ hơn.

Các bộ vi xử lý Pentium đầu tiên (60 MHz và 66 MHz) đã sử dụng chuẩn sơ đồ chân có tên gọi là socket 4, đây cũng là sơ đồ chân được cấp 5 V. Các bộ vi xử lý Pentium từ 75 MHz trở lên đều được cấp 3,3V và vì vậy yêu cầu thêm một chân mới, kiểu chân này được gọi là socket 5, không tương thích với socket 4 (ví dụ, Pentium-60 không thể cài đặt trên socket 5 và Pentium-100 không thể cài đặt được trên socket 4). Socket 7 sử dụng cùng sơ đồ chân như socket 5 cộng với một chân bổ sung (key pin), chấp thuận các bộ vi xử lý tương tự đã được chấp thuận bởi socket 5 cộng với các CPU mới, đặc biệt CPU được thiết kế bởi các công ty máy tính (sự khác biệt thực sự giữa socket 5 và socket 7 là: socket 5 luôn được cấp với các CPU 3,3V còn socket 7 lại cho phép các CPU có thể được cấp một mức điện áp khác, như 3,5V hoặc 2,8V). Super 7 socket là một kiểu socket 7 có khả năng chạy lên đến 100MHZ, được sử dụng bởi các CPU AMD. Chúng ta thường gọi Pentium Classic và các sơ đồ chân CPU có khả năng tương thích là “socket 7”.

Như những gì bạn đã thấy, các socket và sơ đồ chân ở giai đoạn này có rất nhiều lộn xộn, vì bộ vi xử lý đã cho có thể được cài đặt trên nhiều kiểu socket khác nhau. 486DX-33 có thể đựợc cài đặt trên các socket 0, 1, 2, 3 và có thể cả 6 nếu đã được phát hành.

Các nhà sản xuất CPU phải theo một lược đồ đơn giản hơn, mỗi CPU nên được cài đặt chỉ trên một kiểu socket.
Chi tiết tham khảo thêm tại: http://news.tech24.vn/Tim-hieu-ve-Socket-cua-CPU-i3724.html

XuanThai_I11C

Tổng số bài gửi : 20
Join date : 10/09/2011
Age : 31

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 5

Bài gửi  TranThanhHoang(I91C) on 23/9/2011, 12:44

VoMinhHoang (I11C) đã viết:**TCP:
thì thiết lập sẵn mối liên kết giữa 2 máy trước khi truyền ( có kết nối )

**UDP:
Không phải thiết lập mối liên kết trước khi truyền, do đó dễ dàng liên lạc với nhiều máy cùng lúc nhưng không đảm bảo bằng TCP(không có kết nối).

ví dụ: giao thức TCP: từ điểm A sang điểm B nếu quy định đi bằng đường thẳng thì chỉ có một đường đi( ở đây ta có kết nối sẵn giữa 2 điểm A và B là đường thẳng). Giao thức UDP: Nếu không không buộc

Nói tóm lại:
TCP:là giao thức truyền có dịnh hướng trước khi truyền và có kiểm soát lỗi
UDP:truyền ko định hướng đi đến đâu tìm đường đến đó
vd thì như ví dụ của Thầy là trường hợp qua sông và đi trong rừng,vd này ko phải mình ko nói ra vì ích kỷ
mà mình muốn mọi ng đi học môn này vì rất hay và rất bổ ích. :d

TranThanhHoang(I91C)

Tổng số bài gửi : 19
Join date : 25/08/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Tại sao phải làm lại những chương trình chat trong khi đã có rất nhiều chương trình chat miễn phí???

Bài gửi  phamngoctan095 (I11C) on 23/9/2011, 14:14

Chào cả nhà!
Vấn đề “Tại sao phải làm lại những chương trình chat trong khi đã có rất nhiều chương trình chat miễn phí” đã được các bạn lớp Hoàn chỉnh kiến thức I83C thảo luận rất sôi nổi trên diễn đàn khóa trước. Riêng mình thì có ý kiến, cũng như cái ví dụ con mèo hoang mà thầy đã nêu trên lớp thì một khi đã lệ thuộc vào những thứ đã sẵn có sẽ mất dần khả năng tự kiếm “mồi”. Một khi chúng ta cần đến nó sẽ không biết cách để tự kiếm được. Trong thực tế cũng đã xảy ra trường hợp tương tự, lấy ví dụ tại một số công ty thì những ứng dụng chat hầu như bị cấm cửa như Yahoo chẳng hạn. Và lúc bấy giờ thì khả năng tự kiếm “mồi” của những con mèo hoang mới thật sự cần thiết.

phamngoctan095 (I11C)

Tổng số bài gửi : 12
Join date : 26/08/2011
Age : 30
Đến từ : Miền Tây

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Nguyên lý hoạt động của giao thức TCP/IP

Bài gửi  Tranvancanh(I11C) on 23/9/2011, 14:17

- Kết cấu vật lý của mạng Internet gồm có mạng chính chứa các server cung cấp dịch vụ cho mạng, mạng nhánh bao gồm các trạm làm việc sử dụng dịch vụ do Internet cung cấp. "Đám mây Internet" hàm chứa vô vàn mạng chính, mạng nhánh và bao phủ toàn thế giới. Để một hệ thống phức tạp như vậy hoạt động trơn tru và hiệu quả thì điều kiện tiên quyết là mọi máy tính trong mạng, dù khác nhau về kiến trúc, đều phải giao tiếp với mạng theo cùng một quy luật. Đó là giao thức TCP/IP.

- Một mạng intranet theo chuẩn OSI thường có bảy tầng nhưng Internet chỉ có bốn tầng xử lý dữ liệu là:
* Tầng application
* Tầng transport còn gọi là tầng TCP (Transmission Control Protocol)
* Tầng network còn gọi là tầng IP (Internet Protocol)
* Tầng Datalink/Physical

- Đầu tiên, dữ liệu được xử lý bởi tầng application. Tầng này có nhiệm vụ tổ chức dữ liệu theo khuôn dạng và trật tự nhất định để tầng application ở máy B có thể hiểu được. Điều này giống như khi bạn viết một chương trình thì các câu lệnh phải tuân theo thứ tự và cú pháp nhất định thì chương trình mới chạy được. Tầng application gửi dữ liệu xuống tầng dưới theo dòng byte nối byte. Cùng với dữ liệu, tầng application cũng gửi xuống các thông tin điều khiển khác giúp xác định địa chỉ đến, đi của dữ liệu.
- Khi xuống tới tầng TCP, dòng dữ liệu sẽ được đóng thành các gói có kích thước không nhất thiết bằng nhau nhưng phải nhỏ hơn 64 KB. Cấu trúc của gói dữ liệu TCP gồm một phần header chứa thông tin điều khiển và sau đó là dữ liệu. Sau khi đóng gói xong ở tầng TCP, dữ liệu được chuyển xuống cho tầng IP.
- Gói dữ liệu xuống tới tầng IP sẽ tiếp tục bị đóng gói lại thành các gói dữ liệu IP nhỏ hơn sao cho có kích thước phù hợp với mạng chuyển mạch gói mà nó dùng để truyền dữ liệu. Trong khi đóng gói, IP cũng chèn thêm phần header của nó vào gói dữ liệu rồi chuyển xuống cho tầng Datalink/Physical.
- Khi các gói dữ liệu IP tới tầng Datalink sẽ được gắn thêm một header khác và chuyển tới tầng physical đi vào mạng. Gói dữ liệu lúc này gọi là frame. Kích thước của một frame hoàn toàn phụ thuộc vào mạng mà máy A kết nối.
- Trong khi chu du trên mạng Internet, frame được các router chỉ dẫn để có thể tới đúng đích cần tới. Router thực ra là một module chỉ có hai tầng là Network và Datalink/Physical. Các frame tới router sẽ được tầng Datalink/Physical lọc bỏ header mà tầng này thêm vào và chuyển lên tầng Network (IP). Tầng IP dựa vào các thông tin điều khiển trong header mà nó thêm vào để quyết định đường đi tiếp theo cho gói IP. Sau đó gói IP này lại được chuyển xuống tầng Datalink/Physical để đi vào mạng. Quá trình cứ thế tiếp tục cho đến khi dữ liệu tới đích là máy B.
- Khi tới máy B các gói dữ liệu được xử lý theo quy trình ngược lại với máy A. Theo chiều mũi tên, đầu tiên dữ liệu qua tầng datalink/physical. Tại đây frame bị bỏ đi phần header và chuyển lên tầng IP. Tại tầng IP, dữ liệu được bung gói IP, sau đó lên tầng TCP và cuối cùng lên tầng application để hiển thị ra màn hình.
- Hệ thống địa chỉ và cơ chế truyền dữ liệu trong mạng Internet. Để một gói dữ liệu có thể đi từ nguồn tới đích, mạng Internet đã dùng một hệ thống đánh địa chỉ tất cả các máy tính nối vào mạng như hình 3.


- Những tên và địa chỉ này được gửi cho máy tính nhận dữ liệu.
+ Để phân tích hệ thống tên/địa chỉ, hãy bắt đầu từ thấp lên cao:
a. Địa chỉ vật lý, còn gọi là địa chỉ MAC
Sở dĩ có tên gọi như vậy là vì địa chỉ này gắn liền với phần cứng và đại diện cho một thiết bị. Thông thường địa chỉ vật lý được đặt ngay trên bảng mạch máy tính hay trên thiết bị kết nối trực tiếp với máy (modem, card mạng...)
Địa chỉ vật lý được sử dụng như sau:
Thiết bị nhận dữ liệu kiểm tra địa chỉ vật lý đích của gói dữ liệu ở tầng vật lý. Nếu địa chỉ đích này phù hợp địa chỉ vật lý của thiết bị thì gói dữ liệu sẽ được chuyển lên tầng trên, nếu không nó sẽ bị bỏ qua.
b. SAP: Dùng để đại diện cho giao thức bên trên tầng MAC, ở đây là IP.
c. Địa chỉ mạng (network address)
Một thực thể trong mạng được xác định chỉ qua địa chỉ mạng mà không cần địa chỉ vật lý. Dữ liệu được truyền qua mạng chỉ dựa vào địa chỉ mạng. Khi nào dữ liệu tới mạng LAN thì địa chỉ vật lý mới cần thiết để đưa dữ liệu tới đích.

Ví dụ:
Máy gửi có địa chỉ 128.1.6.7 ->địa chỉ mạng là 128.1
Máy nhận có địa chỉ 132.5.8.12 ->địa chỉ mạng là 132.5
Mạng Internet có trách nhiệm dựa vào 2 địa chỉ mạng trên để đưa dữ liệu tới mạng 132.5. Khi tới mạng 132.5 thì dựa vào địa chỉ 8.12 sẽ tìm ra địa chỉ vật lý thực để truyền dữ liệu tới đích. Như vậy có một thắc mắc là: đã có địa chỉ vật lý rồi, tại sao lại cần thêm địa chỉ mạng?
Việc tồn tại 2 loại địa chỉ là do các nguyên nhân:
* 2 hệ thống địa chỉ được phát triển một cách độc lập bởi các tổ chức khác nhau.
* Địa chỉ mạng chỉ có 32 bit sẽ tiết kiệm đường truyền hơn so với địa chỉ vật lý 48 bit.
* Khi mạch máy hỏng thì địa chỉ vật lý cũng mất.
* Trên quan điểm người thiết kế mạng thì sẽ rất hiệu quả khi tầng IP không liên quan gì với các tầng dưới.
Như trên đã nói, từ địa chỉ mạng có thể tìm được địa chỉ vật lý. Công việc tìm kiếm này được thực hiện bởi giao thức ARP (Address Resolution Protocol). Nguyên tắc làm việc của ARP là duy trì một bảng ghi tương ứng địa chỉ IP - địa chỉ vật lý. Khi nhận được địa chỉ IP, ARP sẽ dùng bảng này để tìm ra địa chỉ vật lý. Nếu không thấy, nó sẽ gửi một gói dữ liệu, gọi là ARP request, chứa địa chỉ IP vào mạng LAN. Nếu máy nào nhận ARP request và nhận ra địa chỉ IP của mình thì sẽ gửi lại một gói dữ liệu chứa địa chỉ vật lý của nó.

Vậy từ địa chỉ vật lý, một máy tính trong mạng có thể biết địa chỉ IP của mình hay không? Câu trả lời là có. Giao thức gọi là RARP (Reverse Address Resolution Protocol) thực hiện công việc này. Giả sử trong mạng có một máy cần biết địa chỉ IP của mình, nó gửi một gói dữ liệu cho tất cả các máy trong mạng LAN. Mọi máy trong mạng đều có thể nhận gói dữ liệu này, nhưng chỉ có RARP server mới trả lại thông báo chứa địa chỉ mạng của máy đó.
Trên thực tế, khi muốn nhập vào một địa chỉ Internet nào đó, bạn hay đánh vào dòng chữ như "WWW.hotmail.com" mà ít thấy những dòng địa chỉ số khô khốc. Vậy có điều gì mâu thuẫn? Chẳng sao cả, Internet đã dùng một hệ thống gọi là DNS (Domain Name System) để đặt tên cho một host và cung cấp một số giao thức để chuyển đổi từ địa chỉ chữ ra địa chỉ số và ngược lại. Cách tổ chức tên của DNS tuân theo dạng hình cây như hình 4.

Một máy tính trong mạng sẽ ứng với một nút của cây. Như ở cây trên, máy ở lá FPT sẽ có địa chỉ hoàn chỉnh là fpt.com.vn. Mỗi nút trên cây biểu diễn một miền (domain) trong hệ thống DNS; mỗi miền lại có một hay nhiều miền con. Tại mỗi miền này đều phải có máy chủ DNS tương ứng quản lý hệ thống tên trong miền đó. Để hiểu rõ hơn hoạt động của DNS, lấy một ví dụ sau:

Một máy trạm có tên là test.fpt.com.vn muốn biết địa chỉ IP của máy www.microsoft. com, quá trình hỏi của nó như sau:
Khi máy test.fpt.com.vn gửi yêu cầu hỏi về máy www. microsoft.com tới DNS của miền fpt.com.vn, DNS xác định là tên đó không nằm trong miền mà nó quản lý và gửi ngược lên cho miền ở mức cao hơn là com.vn. Tại đây, DNS cũng không tìm được thông tin thoả mãn nên phải hỏi ngược lên DNS của miền vn.
Quá trình cứ thế tiếp diễn đến khi câu hỏi được gửi tới DNS của miền microsoft.com và tại đây câu hỏi được giải đáp.
Để hoạt động hiệu quả như trên, mỗi máy chủ DNS lưu trữ một cơ sở dữ liệu gồm các bản ghi chứa thông tin:
+ Tên của DNS cấp cao hơn
+ Địa chỉ IP
+ Địa chỉ dạng chữ tương ứng
Chỉ số của bản ghi được lấy từ địa chỉ IP tương ứng, nhờ đó từ địa chỉ IP có thể dễ dàng tìm ra địa chỉ chữ.
d. Protocol ID chỉ ra giao thức của tầng giao vận. Trên Internet trường này là TCP hoặc UDP.
e. Port là một số đặc trưng cho một chương trình chạy trên Internet. Ví dụ, chương trình lấy thư điện tử qua giao thức IMAP có port=143, truyền file có port =21, v.v...
f. Username là tên người đăng kí sử dụng chương trình ở phần II có nói tại router, IP sử dụng các thông tin điều khiển trong header của gói dữ liệu IP để quyết định đường đi tiếp theo của gói này. Có rất nhiều thông tin điều khiển nhưng ở đây chỉ xin phân tích các thông tin quan trọng.
- Đầu tiên là địa chỉ đích. Nếu địa chỉ đích trùng với địa chỉ của router đó thì gói dữ liệu được truyền trực tiếp cho host B. Nếu không trùng thì dữ liệu sẽ được truyền đến router tiếp theo trên đường đi. Vấn đề là router nào được chọn. Có 2 khả năng để lựa chọn router, tức là 2 khả năng để dẫn đường:
+ Thứ nhất là tuân theo một cách nghiêm ngặt source routing. Dữ liệu sẽ được truyền cho router tiếp theo trong source routing. Nhưng dữ liệu chỉ được truyền đi khi router được chọn có trong bảng các router có thể đến được của router hiện tại, bằng không sẽ sinh ra lỗi.
+ Thứ hai là "quên đi" source routing và tìm đường mới tới đích. Router tiếp theo được chọn dựa trên sự tìm đường này. Thông thường sự tìm đường dựa trên thuật toán Dijstra tìm kiếm theo chiều rộng. Trên thực tế, cách này đang được sử dụng rộng rãi và có thể trở thành chuẩn trong tương lai.
- Các gói dữ liệu IP thường có kích thước phụ thuộc vào mạng con. Các mạng con khác nhau thì kích thước gói IP của chúng cũng khác nhau. Vậy giả sử mạng A truyền được gói dữ liệu có kích thước lớn nhất là 1024 byte, mạng B truyền được gói dữ liệu có kích thước lớn nhất là 256 byte thì gói dữ liệu từ mạng A có kích thước 1024 byte qua mạng B như thế nào?
- Để giải quyết vấn đề này, IP cung cấp khả năng phân và gom mảnh gói dữ liệu. Đây chính là lúc IP sử dụng trường flags và offset trong gói dữ liệu IP. Trường flags thực chất là các cờ thông báo gói dữ liệu này có bị phân mảnh hay không, trường offset chứa giá trị tương đối của gói con trong gói to ban đầu. Khi phân mảnh các cờ được bật lên, đồng thời trường offset được thiết lập giá trị. Dựa vào các dữ liệu trên, IP có thể dễ dàng gom mảnh gói dữ liệu, hồi phục khối dữ liệu to ban đầu.

Kiểm soát lỗi:
Qua các phần trên ta thấy quá trình dữ liệu đi trên mạng đã khá rõ ràng nhưng trên một mạng rộng lớn như Internet thì có gì đảm bảo dữ liệu sẽ tới đích một cách an toàn? Điều gì xảy ra nếu trên đường đi các gói dữ liệu bị mất, tắc nghẽn, lạc đường...? Đây chỉ đơn thuần là các sự cố, nhưng thật đáng tiếc là nó lại rất hay xảy ra trên thực tế, do đó một yêu cầu đặt ra là phải có cơ chế thông báo và sửa lỗi trên mạng. Khi có lỗi, tầng IP đơn thuần huỷ bỏ dữ liệu và thông báo lỗi. Thông báo lỗi được thực hiện qua một giao thức gọi là ICMP (Internet Control Message Protocol). ICMP có thể coi là bạn đồng hành với IP và có một số đặc điểm sau:
- Dùng IP để truyền thông báo qua mạng.
- Không có chức năng sửa lỗi mà chỉ đơn thuần là máy thông báo lỗi. Chức năng sửa lỗi là của tầng trên (tầng TCP)
- Thông báo lỗi về gói dữ liệu IP nhưng lại không thể thông báo lỗi về gói dữ liệu của chính mình
- Nếu gói dữ liệu IP bị phân mảnh thì khi xảy ra lỗi, ICMP chỉ thông báo lỗi của mảnh đầu tiên.
...
Hy vọng bài viết đã trình bày một cách khá hệ thống những nét căn bản nhất của mạng Internet, mong các bạn góp ý, thanks thầy và các bạn. Chúc 1 ngày làm việc tốt và vui vẻ.


Tranvancanh(I11C)

Tổng số bài gửi : 39
Join date : 16/09/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 5

Bài gửi  Tranvancanh(I11C) on 23/9/2011, 14:31

phamngoctan095 (I11C) đã viết:Chào cả nhà!
Vấn đề “Tại sao phải làm lại những chương trình chat trong khi đã có rất nhiều chương trình chat miễn phí” đã được các bạn lớp Hoàn chỉnh kiến thức I83C thảo luận rất sôi nổi trên diễn đàn khóa trước. Riêng mình thì có ý kiến, cũng như cái ví dụ con mèo hoang mà thầy đã nêu trên lớp thì một khi đã lệ thuộc vào những thứ đã sẵn có sẽ mất dần khả năng tự kiếm “mồi”. Một khi chúng ta cần đến nó sẽ không biết cách để tự kiếm được. Trong thực tế cũng đã xảy ra trường hợp tương tự, lấy ví dụ tại một số công ty thì những ứng dụng chat hầu như bị cấm cửa như Yahoo chẳng hạn. Và lúc bấy giờ thì khả năng tự kiếm “mồi” của những con mèo hoang mới thật sự cần thiết.
Thanks bạn. vd bạn đưa ra đơn giản và thực tế.

Tranvancanh(I11C)

Tổng số bài gửi : 39
Join date : 16/09/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 5

Bài gửi  nguyenthanhphuong(I11C) on 23/9/2011, 15:04

Giao thức TCP và UDP là hai giao thức phổ biến nhất ở lớp vận chuyển (transport layer) của chồng giao thức TCP/IP. UDP dùng ít byte hơn cho phần header và yêu cầu xử lý từ host ít hơn. TCP thì cần nhiều byte hơn trong phần header và phải xử lý nhiều hơn nhưng cung cấp nhiều chức năng hữu ích hơn, như khả năng khôi phục lỗi.
tóm lại là:
TCP : Hy sinh tốc độ để đảm bảo độ tin cậy của gói tin truyền đi.
UDP : Ưu tiên tốc độ không đảm bảo độ tin cậy của gói tin truyền đi
Do đó : ứng dụng của TCP,UDP vào các services có khác nhau,ví dụ :
+ TCP thường được ứng dụng vào : Email, File Sharing, Downloading ..
+ UDP : Voice streaming, Video streaming.
Một số ứng dụng thông thường của TCP, UDP:
TCP : FTP, Telnet, HTTP ..
UDP : TFTP, SNMP, ...

nguyenthanhphuong(I11C)

Tổng số bài gửi : 18
Join date : 30/08/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 5

Bài gửi  nguyenthanhphuong(I11C) on 23/9/2011, 15:28

Well - Known Port :

- 21: FTP
- 23: Telnet
- 25: SMTP
- 42, 1512: WINS
- 53: DNS
- 67: DHCP server
- 68: DHCP client
- 80: HTTP
- 88: Keberos (Authetication System)
- 110: POP3
- 220: Internet Message Access Protocol (IMAP)
- 443: HTTPS
- 530: RPC
- 995: POP3S
- 1293: IPSec
- 1433: SQL server
- 1434: SQL monitor
- 1701: L2TP ( VPN services)
- 1723: PPTP (VPN services)

nguyenthanhphuong(I11C)

Tổng số bài gửi : 18
Join date : 30/08/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 5

Bài gửi  TranThanhHoang(I91C) on 23/9/2011, 16:02

phamngoctan095 (I11C) đã viết:Chào cả nhà!
Vấn đề “Tại sao phải làm lại những chương trình chat trong khi đã có rất nhiều chương trình chat miễn phí” đã được các bạn lớp Hoàn chỉnh kiến thức I83C thảo luận rất sôi nổi trên diễn đàn khóa trước. Riêng mình thì có ý kiến, cũng như cái ví dụ con mèo hoang mà thầy đã nêu trên lớp thì một khi đã lệ thuộc vào những thứ đã sẵn có sẽ mất dần khả năng tự kiếm “mồi”. Một khi chúng ta cần đến nó sẽ không biết cách để tự kiếm được. Trong thực tế cũng đã xảy ra trường hợp tương tự, lấy ví dụ tại một số công ty thì những ứng dụng chat hầu như bị cấm cửa như Yahoo chẳng hạn. Và lúc bấy giờ thì khả năng tự kiếm “mồi” của những con mèo hoang mới thật sự cần thiết.

Mình cũng đồng ý với ý kiến của An/Ân/Ấn/Ẩn
tuy nhiên mình phải biết lựa chọn ko phải cái nào cũng phải override lại
tùy theo mục đích sử dụng của mình thôi. tongue

TranThanhHoang(I91C)

Tổng số bài gửi : 19
Join date : 25/08/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

IPC

Bài gửi  TranVuThuyVan_(I11C) on 23/9/2011, 20:55

Truyền thông giữa các quá trình IPC là một tập các kỹ thuật được dùng bởi các chương trình và các quá trình đang chạy trên hệ điều hành đa nhiệm, hay giữa các máy tính nối mạng. Có hai loại IPC. Loại LPC (local procedure call) được dùng trong hệ điều hành đa nhiệm cho phép các tác vụ đang chạy đồng thời trao đổi thông tin với nhau. Chúng có thể dùng chung không gian nhớ, đồng bộ các tác vụ và gửi thông điệp cho nhau. Loại RPC (remote procedure call) tương tự như LPC nhưng làm việc trên mạng. RPC cung cấp cơ cấu truyền thông cho khách hàng để truyền thông các yêu cầu cần phục vụ của họ đến server back-end. Nếu bạn nghĩ các ứng dụng client/server như một chương trình đã được chia thành các hệ thống front-end và back-end, thì RPC có thể được xem như một thành phần để tái hợp chúng trên mạng. Cơ chế truyền thông giữa các quá trình trong UNIX là pipe và cơ chế truyền thông giữa các quá trình trên mạng là socket. Socket cũng trở thành một phần của UNIX khi giao thức TCP/IP được tích hợp vào Berkeley UNIX đầu năm 1980. Đây là một đề án được tài trợ bởi DARPA. TỪ MỤC LIÊN QUAN API (Application Programming Interface); Middleware and Messaging; MOM (Message-Oreinted Middleware); Named Pipies; RPC (Remote Procedure Call); Sockets API; và WinSock

TranVuThuyVan_(I11C)

Tổng số bài gửi : 11
Join date : 26/08/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

LIÊN LẠC GIỮA CÁC TIẾN TRÌNH

Bài gửi  NguyenDinhHop (I11C) on 23/9/2011, 22:23

A. Nhu cầu liên lạc giữa các tiến trình
Trong môi trường đa chương, một tiến trình không đơn độc trong hệ thống , mà có thể ảnh hưởng đến các tiến trình khác , hoặc bị các tiến trình khác tác động. Nói cách khác, các tiến trình là những thực thể độc lập , nhưng chúng vẫn có nhu cầu liên lạc với nhau để :
- Chia sẻ thông tin: nhiều tiến trình có thể cùng quan tâm đến những dữ liệu nào đó, do vậy hệ điều hành cần cung cấp một môi trường cho phép sự truy cập đồng thời đến các dữ liệu chung.
- Hợp tác hoàn thành tác vụ: đôi khi để đạt được một sự xử lý nhanh chóng, người ta phân chia một tác vụ thành các công việc nhỏ có thể tiến hành song song. Thường thì các công việc nhỏ này cần hợp tác với nhau để cùng hoàn thành tác vụ ban đầu, ví dụ dữ liệu kết xuất của tiến trình này lại là dữ liệu nhập cho tiến trình khác .Trong các trường hợp đó, hệ điều hành cần cung cấp cơ chế để các tiến trình có thể trao đổi thông tin với nhau.

B. Các vấn đề nảy sinh trong việc liên lạc giữa các tiến trình
Do mỗi tiến trình sỡ hữu một không gian địa chỉ riêng biệt, nên các tiến trình không thể liên lạc trực tiếp dễ dàng mà phải nhờ vào các cơ chế do hệ điều hành cung cấp. Khi cung cấp cơ chế liên lạc cho các tiến trình, hệ điều hành thường phải tìm giải pháp cho các vấn đề chính yếu sau :
Liên kết tường minh hay tiềm ẩn (explicit naming/implicit naming) : tiến trình có cần phải biết tiến trình nào đang trao đổi hay chia sẻ thông tin với nó ? Mối liên kết được gọi là tường minh khi được thiết lập rõ ràng , trực tiếp giữa các tiến trình, và là tiềm ẩn khi các tiến trình liên lạc với nhau thông qua một qui ước ngầm nào đó.
Liên lạc theo chế độ đồng bộ hay không đồng bộ (blocking / non-blocking): khi một tiến trình trao đổi thông tin với một tiến trình khác, các tiến trình có cần phải đợi cho thao tác liên lạc hoàn tất rồi mới tiếp tục các xử lý khác ? Các tiến trình liên lạc theo cơ chế đồng bộ sẽ chờ nhau hoàn tất việc liên lạc, còn các tiến trình liên lạc theo cơ chế nonblocking thì không.
Liên lạc giữa các tiến trình trong hệ thống tập trung và hệ thống phân tán: cơ chế liên lạc giữa các tiến trình trong cùng một máy tính có sự khác biệt với việc liên lạc giữa các tiến trình giữa những máy tính khác nhau?
Hầu hết các hệ điều hành đưa ra nhiều cơ chế liên lạc khác nhau, mỗi cơ chế có những đặc tính riêng, và thích hợp trong một hoàn cảnh chuyên biệt.


avatar
NguyenDinhHop (I11C)

Tổng số bài gửi : 14
Join date : 26/08/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Khái Niệm Socket và cách thức để liên lạc bằng Socket

Bài gửi  NguyenDinhHop (I11C) on 23/9/2011, 23:14

1.Khái niệm:
Một socket là một thiết bị truyền thông hai chiều tương tự như tập tin, chúng ta có thể đọc hay ghi lên nó, tuy nhiên mỗi socket là một thành phần trong một mối nối nào đó giữa các máy trên mạng máy tính và các thao tác đọc/ghi chính là sự trao đổi dữ liệu giữa các ứng dụng trên nhiều máy khác nhau.
Sử dụng socket có thể mô phỏng hai phương thức liên lạc trong thực tế : liên lạc thư tín (socket đống vai trò bưu cục) và liên lạc điện thoại (socket đống vai trò tổng đài) .
2.Các thuộc tính của socket:
Domaine: định nghĩa dạng thức địa chỉ và các nghi thức sử dụng. Có nhiều domaines, ví dụ UNIX, INTERNET, XEROX_NS, ...
A. Định nghĩa các đặc điểm liên lạc:
a) Sự tin cậy
b) Sự bảo toàn thứ tự dữ liệu
c) Lặp lại dữ liệu
d) Chế độ nối kết
e) Bảo toàn giới hạn thông điệp
f) Khả năng gởi thông điệp khẩn
B. Để thực hiện liên lạc bằng socket, cần tiến hành các thao tác ::
Tạo lập hay mở một socket.
Gắn kết một socket với một địa chỉ
Liên lạc :
Có hai kiểu liên lạc tùy thuộc vào chế độ nối kết:
a) Liên lạc trong chế độ không liên kết : liên lạc theo hình thức hộp thư:
+.Hai tiến trình liên lạc với nhau không kết nối trực tiếp.
+ .Mỗi thông điệp phải kèm theo địa chỉ người nhận.
*. Hình thức liên lạc này có đặc điểm được :
Người gởi không chắc chắn thông điệp của học được gởi đến người nhận,một thông điệp có thể được gởi nhiều lần,hai thông điệp được gởi theo một thứ tự nào đó có thể đến tay người nhận theo một thứ tự khác.Một tiến trình sau khi đã mở một socket có thể sử dụng nó để liên lạc với nhiều tiến trình khác nhau nhờ sử hai primitive send và receive.
b) Liên lạc trong chế độ nối kết:
Một liên kết được thành lập giữa hai tiến trình. Trước khi mối liên kết này được thiết lập, một trong hai tiến trình phải đợi có một tiến trình khác yêu cầu kết nối.Có thể sử dụng socket để liên lạc theo mô hình client-serveur. Trong mô hình này, server sử dụng lời gọi hệ thống listen và accept để nối kết với client, sau đó , client và server có thể trao đổi thông tin bằng cách sử dụng các primitive send và receive.
Hủy một socket
Ví dụ :
Trong nghi thức truyền thông TCP, mỗi mối nối giữa hai máy tính được xác định bởi một port, khái niệm port ở đây không phải là một cổng giao tiếp trên thiết bị vật lý mà chỉ là một khái niệm logic trong cách nhìn của người lập trình, mỗi port được tương ứng với một số nguyên dương.

Các socket và port trong mối nối TCP.
Hính sau minh họa một cách giao tiếp giữa hai máy tính trong nghi thức truyền thông TCP. Máy A tạo ra một socket và kết buộc (bind) socket này với một port X (tức là một số nguyên dương có ý nghĩa cục bộ trong máy A), trong khi đó máy B tạo một socket khác và móc vào (connect) port X trong máy A.


avatar
NguyenDinhHop (I11C)

Tổng số bài gửi : 14
Join date : 26/08/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Sự khác nhau giữa TCP và UDP

Bài gửi  chipphonui on 24/9/2011, 13:35

Giao thức TCP hỗ trợ tính toàn vẹn của dữ liệu. Nếu như trong khi gửi, một package nào đó bị drop. bên nhận sẽ request để xin gửi lại. . Thuận lợi của protocol này là dữ liệu ko bị mất hoặc méo mó, khuyết điểm là CHẬM.
Giao thức UDP ko hỗ trợ tính năng này, nó cứ gửi package ko cần biết bên người nhân có nhận được hay ko. Ưu điểm là nhanh chóng, khuyết điểm là ... dữ liệu thường lúc có lúc không.
avatar
chipphonui

Tổng số bài gửi : 21
Join date : 07/09/2011
Age : 29
Đến từ : Gia lai

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Một số khái niệm về port và port thông dụng

Bài gửi  chipphonui on 24/9/2011, 13:44


Những điều cần biết về Port:

- Port không phải là " cổng " để "chạy ra chạy vào" mà là một số hiệu ID cho 1 application nào đó.
- Mỗi Application chỉ có thể chạy trên một/nhiều port và mang tính độc quyền, không có Application khác được " chạy ké ".
- Chính vì tính độc quyền nên các Application có thể modify cho phép chạy một port khác với Port default. Ví dụ IIS/Apache làm web server có thể dùng 80 là default nhưng có thể đổi thành 81 82 83 v.v... tùy ý.
- Port cũng có phân chia làm Internal và External .
- Số hiệu từ 1->65535.

Một số cổng thông dụng trong internet:.


1.Cổng 80: Khi một người sử dụng địa chỉ IP hay HostName của các bạn trong bộ duyệt, bộ duyệt sẽ quan sát địa chỉ IP trên cổng 80 theo mặc định cho những trang Web.

2.Cổng 81: Khi một người sử dụng nhập địa chỉ IP hay HostName của các bạn trong bộ duyệt, bộ duyệt sẽ quan sát địa chỉ IP trên cổng 80. Nếu Cổng thì bị tắc nghẽn, Cổng 81 được sử dụng như một Cổng xen kẽ cho một website hosting nào đó.

3.Cổng 21: Khi người nào đó thử nối tới dịch vụ FTP của các bạn, khách hàng FTP sẽ cố gắng kết nối trên Cổng 21 theo mặc định. Thì cổng 21 mở cho những khách FTP đăng nhập và nối tới server của các bạn

4.Cổng 22: Nếu bạn chạy một SSH Secure Shell, cổng này được yêu cầu cho Khách hàng SSH để nối tới người phục vụ của các bạn.

5.Cổng 23 :Nếu bạn chạy một người phục vụ Telnet, cổng này được yêu cầu cho Khách hàng Telnet để nối tới người phục vụ của các bạn. Telnet có thể được sử dụng cho những cổng khác kiểm tra những công tác dịch vụ, nhưng để sử dụng telnet cho admin và đăng nhập từ xa thì cổng 23 phải mở.

6.Cổng 25: Khi người nào đó gửi một thư từ thông báo tới server SMTP của các bạn, thư từ sẽ cố gắng để đi vào tới server của các bạn trên Cổng 25. Đây là tiêu chuẩn SMTP (thủ tục vận chuyển Thư từ Đơn giản)

7.Cổng 2525: Khi người nào đó gửi một thư từ thông báo tới server SMTP của bạn, thư từ sẽ để đi vào tới server của các bạn trên Cổng 25. Cổng 2525 xen kẽ được dùng bởi TZO cho những công tác lưu trữ và truyền lại. Đây là một cổng không tiêu chuẩn, nhưng sẻ hữu ích nếu SMTP (thủ tục vận chuyển Thư từ Đơn giản) bị tắc nghẽn

8.Cổng 110: Khi bạn chạy một máy tính, những người sử dụng sẽ vào theo đường POP3 (Nghi thức cơ quan bưu điện) hay IMAP4 (giao thức truy nhập Thông báo Internet) khôi phục thư từ của họ. POP3 là nghi thức tốt nhất để truy nhập những hòm thư

9.Cổng 119: Khi bạn chạy một server Tin tức, điển hình những khách hàng Tin tức muốn nối tới người phục vụ Tin tức của các bạn sẽ nối trên cổng 119. Cái này chuyển những nhu cầu để mở để chạy server tin tức của mình.

10.Cổng 3389: Chuyển 3389 Là Máy để bàn Từ xa được sử dụng cho Windows. Nếu bạn muốn từ xa kết nối tới máy tính của các bạn để điều khiển từ xa, việc sử dụng máy để bàn Từ xa freeXP yêu cầu cổng 3389 để mở.

11.Cổng 389 : LDAP hay giao thức truy nhập Thư mục Lightweight đang trở nên phổ biến chúng cho sự Truy nhập Thư mục, hay Tên, điện thoại Gửi những Thư mục. Chẳng hạn
LDAP: // LDAP.Bigfoot. Com là một người phục vụ thư mục LDAP.

12.Cổng 143 : IMAP4 hay giao thức truy nhập Thông báo Internet đang trở nên phổ biến hơn và được sử dụng khôi phục Thư từ Internet từ một server từ xa. từ đó tất cả các thông báo đều được cất giữ trên server, Nó dễ dàng trực tuyến, ngoại tuyến và sự sử dụng offline

13.Cổng 443 : Khi bạn chạy một người phục vụ an toàn, những Clients SSL muốn nối tới những server An toàn ,các bạn nối trên cổng 443. Những cổng này được cần để mở để chạy …..

14.Cổng 1503 & 1720 :MS NetMeeting và VOIP cho phép bạn tới host Internet hay gọi là VideoConference. NetMeeting là một sản phẩm tự do mà có thể là được tìm thấy trên Website Microsoft Tại địa chỉ http:// www.microsoft.com /

15.Cổng 5590: Khi bạn chạy một Server VNC để từ xa kiểm soát PC của các bạn, nó sử dụng cổng 5900. VNC sẻ hữu ích nếu bạn muốn từ xa kiểm soát server của các bạn../

16.Cổng 5631: Khi một người phục vụ PCAnywhere được thiết lập nhận được những yêu cầu từ xa, nó tiếp tục nghe TCP cổng 5631. Hostand được cho phép bạn để chạy một PCAnywhere, PCAnywhere này sử dụng Internet để nối với nhau và từ xa kiểm soát PC của các bạn.

Ngoài ra còn có 1 số port như :

Warcraft 3 là 6112
Age of Empire 2 : 2300-2400, 47624
Võ lâm truyền kỳ 1 : 5622 , 6xxx
AOL Messenger : 5190
ICQ 2000 : 5190
MSN Messenger : 1863
Port 37: Time
Port 43: Whois:50::17:
Razz Razz Razz Razz Razz
avatar
chipphonui

Tổng số bài gửi : 21
Join date : 07/09/2011
Age : 29
Đến từ : Gia lai

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Nhu cầu liên lạc giữa các tiến trình

Bài gửi  chipphonui on 24/9/2011, 13:57


Nhu cầu liên lạc giữa các tiến trình
Trong môi trường đa chương, một tiến trình không đơn độc trong hệ thống , mà có thể ảnh hưởng đến các tiến trình khác , hoặc bị các tiến trình khác tác động. Nói cách khác, các tiến trình là những thực thể độc lập , nhưng chúng vẫn có nhu cầu liên lạc với nhau để :

Chia sẻ thông tin: nhiều tiến trình có thể cùng quan tâm đến những dữ liệu nào đó, do vậy hệ điều hành cần cung cấp một môi trường cho phép sự truy cập đồng thời đến các dữ liệu chung.

Hợp tác hoàn thành tác vụ: đôi khi để đạt được một sự xử lý nhanh chóng, người ta phân chia một tác vụ thành các công việc nhỏ có thể tiến hành song song. Thường thì các công việc nhỏ này cần hợp tác với nhau để cùng hoàn thành tác vụ ban đầu, ví dụ dữ liệu kết xuất của tiến trình này lại là dữ liệu nhập cho tiến trình khác. Trong các trường hợp đó, hệ điều hành cần cung cấp cơ chế để các tiến trình có thể trao đổi thông tin với nhau.
Socket

- Sockets được định nghĩa là một điểm cuối giao tiếp, được xác định bởi địa chỉ IP và số hiệu cổng.
- Là một phương pháp dùng để giao tiếp giữa các tiến trình khác nhau trong mạng máy tính hay là trên một máy đơn.
- Socket là một trong những phương thức giao tiếp giữa các quá trình (inter-process communication) như pipe , message queue .... Giả sử ta muốn thiết kế một hệ thống trao đổi file.
- Hệ thống này hoạt động như sau : Tất cả dữ liệu được lưu trữ trên một máy chủ mạnh để bảo đảm an toàn và dễ quản lý Giao tiếp socket giúp chúng ta hiện thực mô hình client / server dễ dàng hơn.
VD:A muốn đến nhà B thì trước tiên phải mở cửa đi ra ngoài. Sau đó A đi bộ đến nhà B. Bằng cách nào để đến nhà B không quan tâm phải đi như thế nào.Khi đến nhà B thì A phải bấm chuông để B ra mở cửa. Qúa trình kết nối giữa 2 ứng dụng trên mạng cũng giống như vậy.Client mở một Sockets"Cái cửa' sau đó nó nhờ các lớp mạng tạo ra kết nối tới Server(không quan tâm là kết nối thế nào). Tiếp theo Server cũng tạo ra một sockets khác có địa chỉ "cái cửa thứ 2, nhưng có chuông, số nhà hẻn hoi". Khi có kết nối đúng tới Server dựa vào thông tin trên sockets của server(giống như client tìm đúng số nhà, bấm chuông...) Thì server sẽ mở cổng ra và client/server sẽ bắt đầu trao đổi dữ liệu.



Các thuộc tính của socket:

- Domaine: định nghĩa dạng thức địa chỉ và các nghi thức sử dụng. Có nhiều domaines, ví dụ UNIX, INTERNET, XEROX_NS, ...

- Type: định nghĩa các đặc điểm liên lạc:

a) Sự tin cậy

b) Sự bảo toàn thứ tự dữ liệu

c) Lặp lại dữ liệu

d) Chế độ nối kết

e) Bảo toàn giới hạn thông điệp

f) Khả năng gởi thông điệp khẩn

Để thực hiện liên lạc bằng socket, cần tiến hành các thao tác ::

- Tạo lập hay mở một socket

- Gắn kết một socket với một địa chỉ

- Liên lạc : có hai kiểu liên lạc tùy thuộc vào chế độ nối kết:

a) Liên lạc trong chế độ không liên kết : liên lạc theo hình thức hộp thư:

- hai tiến trình liên lạc với nhau không kết nối trực tiếp

- mỗi thông điệp phải kèm theo địa chỉ người nhận.

Hình thức liên lạc này có đặc điểm được :

- người gởi không chắc chắn thông điệp của học được gởi đến người nhận,

- một thông điệp có thể được gởi nhiều lần,

- hai thông điệp đượ gởi theo một thứ tự nào đó có thể đến tay người nhận theo một thứ tự khác.

Một tiến trình sau khi đã mở một socket có thể sử dụng nó để liên lạc với nhiều tiến trình khác nhau nhờ sử hai primitive send và receive.

b) Liên lạc trong chế độ nối kết:

Một liên kết được thành lập giữa hai tiến trình. Trước khi mối liên kết này được thiết lập, một trong hai tiến trình phải đợi có một tiến trình khác yêu cầu kết nối.Có thể sử dụng socket để liên lạc theo mô hình client-serveur. Trong mô hình này, server sử dụng lời gọi hệ thống listen và accept để nối kết với client, sau đó , client và server có thể trao đổi thông tin bằng cách sử dụng các primitive send và receive.

- Hủy một socket

Ví dụ :

Trong nghi thức truyền thông TCP, mỗi mối nối giữa hai máy tính được xác định bởi một port, khái niệm port ở đây không phải là một cổng giao tiếp trên thiết bị vật lý mà chỉ là một khái niệm logic trong cách nhìn của người lập trình, mỗi port được tương ứng với một số nguyên dương.
- Cơ chế socket có thể sử dụng để chuẩn hoá mối liên lạc giữa các tiến trình vốn không liên hệ với nhau, và có thể hoạt động trong những hệ thống khác nhau.
avatar
chipphonui

Tổng số bài gửi : 21
Join date : 07/09/2011
Age : 29
Đến từ : Gia lai

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 5

Bài gửi  Duongthithanhhuynh (I11C) on 24/9/2011, 16:27

ủa mình nhớ không lầm là những vấn đề mấy bạn post trong mục này là thuộc về bài 4 mà, mấy bạn post có đúng mục ko nhi? làm mình rối quá mình đi học đầy đủ mà hình như bài 5 "đa luồng" chưa học mà sao có vấn đề để thảo luận?hixhix Question Question
avatar
Duongthithanhhuynh (I11C)

Tổng số bài gửi : 26
Join date : 26/08/2011
Age : 27
Đến từ : Tiền Giang

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thảo luận Bài 5

Bài gửi  Sponsored content


Sponsored content


Về Đầu Trang Go down

Trang 1 trong tổng số 3 trang 1, 2, 3  Next

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết