Tiền tố đơn vị đo lường quốc tế ( SI prefixes hoặc Metric prefixes )

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

Tiền tố đơn vị đo lường quốc tế ( SI prefixes hoặc Metric prefixes )

Bài gửi  doanthong(I92C) on 20/9/2010, 22:48

Hi All,
Trong chương 2 có phần Đơn vị đo số lượng (Metric Units), nên mình xin giới thiệu thêm phần tiền tố đơn vị đo lường quốc tế ( SI prefixes hoặc metric prefixes ).Khỏi phải tìm Laughing
  • Tiền tố đơn vị đo lường quốc tế bao gồm 20 tiền tố sau:
    Tên Ký hiệu 10n Năm ra đời
    yotta Y 1024 1991
    zetta Z 1021 1991
    exaE 1018 1975
    peta P 1015 1975
    tera T 1012 1960
    giga G 109 1960
    mega M 106 1960
    kilo k 103 1795
    hecto h 102 1795
    deca da 101 1795
    deci d 10-1 1795
    centi c 10-2 1795
    mili m 10-3 1795
    micro μ 10-6 1960
    nano n 10-9 1960
    pico p 10-12 1960
    femto f 10-15 1964
    atto a 10-18 1964
    zepto z 10-21 1991
    yocto y 10-24 1991

  • Đến năm 2010, tiền tố đo lường mới được đề xuất cho đơn vị 1027 có tên gọi là "hella-".Và tháng 05 - 2010, nó được công nhận bởi Google. Đơn vị này dùng để đo đường kính của vũ trụ.

Vậy là sau yotta-byte thì sẽ là hella-byte Very Happy

Trân trọng!


Được sửa bởi doanthong(I92C) ngày 27/10/2010, 13:28; sửa lần 1.
avatar
doanthong(I92C)

Tổng số bài gửi : 15
Join date : 14/09/2010
Age : 30
Đến từ : BT

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Tiền tố đơn vị đo lường quốc tế ( SI prefixes hoặc Metric prefixes )

Bài gửi  kimgiap(i92c) on 20/9/2010, 23:22

Những tiền tố nhị phân sử dụng ký hiệu SI
Tên Ký hiệu Giá trị Cơ số 16 Cơ số 10
kilo k/K 210 = 1.024 = 162.5 > 103
mega M 220 = 1.048.576 = 165 > 106
giga G 230 = 1.073.741.824 = 167.5 > 109
tera T 240 = 1.099.511.627.776 = 1610 > 1012
peta P 250 = 1.125.899.906.842.624 = 1612.5 > 1015
exa E 260 = 1.152.921.504.606.846.976 = 1615 > 1018
zetta Z 270 = 1.180.591.620.717.411.303.424 = 1617.5 > 1021
yotta Y 280 = 1.208.925.819.614.629.174.706.176 = 1620 > 1024

Ký hiệu một ký tự thì y hệt như tiền tố SI, trừ "K", được dùng qua lại với "k" (trong SI, "K" viết hoa có nghĩa là độ kelvin, và chỉ có "k" viết thường mới có nghĩa là 1.000).

Các tiền tố này thường được dùng trong ngữ cảnh nói về kích thước bộ nhớ hay tập tin. Tên và giá trị của tiền tố SI được định nghĩa trong tiêu chuẩn SI năm 1960, với giá trị là lũy thừa của 1000. Những từ điển tiêu chuẩn đã thực sự công nhận nghĩa nhị phân của những tiền tố này.[21][22] Ví dụ như từ điển trực tuyến Oxford định nghĩa megabyte như sau: "Máy tính một đơn vị thông tin bằng với một triệu hoặc (chính xác) 1.048.576 byte."[23]

BIPM (tổ chức duy trì SI) cấm tuyệt đối việc dùng như tiền tố nhị phân, và đề nghị sử dụng tiền tố IEC để thay thế (đơn vị tính toán không nằm trong SI).[24]

Có người đề nghị "k" được dùng cho 1.000, và "K" cho 1.024, nhưng nó không thể mở rộng cho những tiền tố bậc cao hơn và chưa bao giờ được công nhận rộng rãi.

Mặc dù các tiền tố để chỉ các đơn vị thấp hơn một bit hay một byte theo lý thuyết có thể được dùng trong những lĩnh vực như mã hóa, nén dữ liệu, và mức độ truyền dữ liệu, chúng không được dùng trong thực tế.

Một cách không chính thức, những tiền tố thường đứng một mình. Do đó có ai đó sẽ nghe thấy "DRAM 256 "kí"" (256 kilobyte nhị phân), "ổ cứng 160 "mê"" (160 megabyte thập phân) hay "đường truyền Internet 2 "mê"" (2 megabit thập phân trên giây). Đơn vị nào đang được dùng, và cơ số của nó là nhị phân hay thập phân, tùy thuộc hoàn toàn vào ngữ cảnh sử dụng và không thể được xác định chỉ bằng đơn vị.

Từ khi bắt đầu xuất hiện năm 1984, Macintosh của Apple đã hiển thị dung lượng đĩa sử dụng KB = 1024 byte; đĩa mềm "400 KB" của nó có dung lượng 409.600 byte.


Windows XP chỉ dung lượng ổ đĩa 160×109 byte là "149.05 GB" (nhị phân).


Windows XP chỉ dung lượng ổ đĩa 160×109 byte là "152625 MB" (nhị phân).


Windows XP chỉ kích thước của một phân vùng ổ đĩa 73×109 byte là "68.1 GB" (nhị phân).

Dung lượng 536.870.912 byte (512×220) của những thanh RAM được ghi là "512 MB" (nhị phân).
[sửa] Tiền tố tiêu chuẩn IEC
Tên Ký hiệu Cơ số 2 Cơ số 16 Cơ số 10
kibi Ki 210 162.5 400(16) = 1.024 > 103
mebi Mi 220 165 10 0000(16) = 1.048.576 > 106
gibi Gi 230 167.5 4 000 0000(16) = 1.073.741.824 > 109
tebi Ti 240 1610 100 0000 0000(16) = 1.099.511.627.776 > 1012
pebi Pi 250 1612.5 4 0000 0000 0000(16) = 1.125.899.906.842.624 > 1015
exbi Ei 260 1615 1000 0000 0000 0000(16) = 1.152.921.504.606.846.976 > 1018
zebi Zi 270 1617.5 40 0000 0000 0000 0000(16) = 1.180.591.620.717.411.303.424 > 1021
yobi Yi 280 1620 1 0000 0000 0000 0000 0000(16) = 1.208.925.819.614.629.174.706.176 > 1024

Ví dụ: 300 GB ≅ 279.5 GiB.
Tỷ lệ xấp xỉ giữa tiền tố nhị phân và thập phân

Khi các đơn vị trong bảng đơn vị đi lên dần, phần trăm sai lệch giữa giá trị nhị phân và thập phân của tiền tố càng tăng, từ 2,4% (với tiền tố kilo) đến trên 20% (với tiền tố yotta). Điều này khiến cho sai số giữa hai giá trị trở nên quan trọng khi lưu trữ dữ liệu ngày càng lớn và công nghệ truyền dẫn được phát triển.
Tên Nhị phân ÷ Thập phân Thập phân ÷ Nhị phân Ví dụ Tỷ lệ sai khác
kilobyte : kibibyte 1.024 0.976 100 kB ≅ 97.6 KiB +2.4% hay −2.3%
megabyte : mebibyte 1.049 0.954 100 MB ≅ 95.4 MiB +4.9% hay −4.6%
gigabyte : gibibyte 1.074 0.931 100 GB ≅ 93.1 GiB +7.4% hay −6.9%
terabyte : tebibyte 1.100 0.909 100 TB ≅ 90.9 TiB +10% hay −9.1%
petabyte : pebibyte 1.126 0.888 100 PB ≅ 88.8 PiB +12.6% hay −11.2%
exabyte : exbibyte 1.153 0.867 100 EB ≅ 86.7 EiB +15.3% hay −13.3%
zettabyte : zebibyte 1.181 0.847 100 ZB ≅ 84.7 ZiB +18.1% hay −15.3%
yottabyte : yobibyte 1.209 0.827 100 YB ≅ 82.7 YiB +20.9% hay −17.3%
Sự chấp nhận

Đến năm 2007, quy ước đặt tên của IEC vẫn chưa được sử dụng rộng rãi, nhưng nó đang được phổ biến dần dần.

Nó được hỗ trợ mạnh mẽ bởi nhiều cơ quan tiêu chuẩn hóa và tổ chức kỹ thuật, như IEEE, CIPM, NIST, và SAE.[25][24][26][27] Những tiền tố nhị phân mới cũng đã được chấp nhận bởi tổ chức Tiêu chuẩn hóa Kỹ thuật Điện tử của Ủy ban Châu Âu (CENELEC) như một tài liệu dung hòa HD 60027-2:2003-03.[28] Tài liệu này sẽ được chấp nhận như một tiêu chuẩn Châu Âu.[29]

Những tiền tố đang bắt đầu được sử dụng trong những bài báo kỹ thuật và phần mềm khi việc tránh nhập nhằng là quan trọng. Các phần mềm hiện đang dùng tiền tố tiêu chuẩn IEC (chung với tiền tố tiêu chuẩn SI) bao gồm Linux kernel,[30] GNU Core Utilities,[31] Launchpad, GParted,[32] ifconfig,[33] Deluge (chương trình BitTorrent), [34] và BitTornado. Những chương trình khác như fdisk và apt-get sử dụng tiền tố SI với ý nghĩa thập phân.

Trình sửa chữa phân vùng của GNOME sử dụng tiền tố IEC để hiển thị kích thước phân vùng. Dung lượng tổng cộng của đĩa 160×109 byte được hiển thị là "149,05 GiB"


Trình giám sát hệ thống của GNOME sử dụng tiền tố IEC để chỉ kích thước bộ nhớ và mức độ dữ liệu trên mạng.


BitTornado sử dụng tiền tố SI chuẩn để chỉ mức truyền


Deluge (chương trình BitTorrent) dùng tiền tố IEC cho mức truyền dữ liệu cũng như kích thước tập tin.
Việc sử dụng

Cụm từ "đơn vị thập phân" sẽ được dùng để chỉ "định danh SI được hiểu với nghĩa tiêu chuẩn, thập phân, lũy thừa của 1000" và "đơn vị nhị phân" sẽ có nghĩa "định danh SI được hiểu với nghĩa nhị phân, lũy thừa của 1024." B sẽ được dùng làm ký hiệu cho byte theo tiêu chuẩn công nghiệp máy tính (IEEE 1541 và IEC 60027; B cũng được dùng làm ký hiệu cho bel, một đơn vị không phải của SI phổ biến để đo số truyền).

Có những đơn vị luôn luôn được hiểu là số thập phân ngay cả khi nói đến máy tính. Ví dụ như, hertz (Hz), được dùng để đo tốc độ xung đồng hồ của những linh kiện điện tử, và bit/s, dùng để đo tốc độ truyền bit. Do đó bộ vi xử lý 1 GHz sẽ thực hiện 1.000.000.000 xung đồng hồ trong một giây, nhạc [[MP3] 128 kbit/s tốn 128.000 bit (16 kB, 15.625 KiB) một giây, và kết nối Internet tốc độ 1 Mbit/s có thể truyền 1.000.000 bit (125 kB, tương đương 122 KiB) một giây, giả thiết 1 byte bằng 8 bit, và không có trễ.[35]
Cách phát âm

Trong tiếng Anh và tương tự đối với tiếng Việt, cách phát âm được đề nghị là âm đầu của tiền tố nhị phân phát âm giống như âm đầu của tiền tố SI tương ứng, và âm sao phát âm như "bi".[26] Ví dụ như: KiB, viết là Kibibyte, đọc là "ki bi bai (tờ)".
[sửa] Bộ nhớ máy tính

Bài chi tiết: Chuẩn bộ nhớ JEDEC

Việc đo lường phần lớn các loại bộ nhớ điện tử như RAM, ROM và Flash (ổ flash dung lượng lớn như đĩa cứng đôi khi là ngoại lệ) thường ở đơn vị nhị phân, vì chúng được tạo ra ở dung lượng theo lũy thừa hai. Đây là cấu hình tự nhiên nhất cho bộ nhớ, vì khi đó tất cả các tổ hợp của các đường địa chỉ sẽ tương ứng với một địa chỉ hữu hiệu, cho phép tập hợp dễ dàng vào một khối bộ nhớ liên tục lớn hơn.

Tổ chức Công nghệ Liên bang Thống nhất JEDEC, một cơ quan tiêu chuẩn hóa kỹ thuật bán dẫn của Liên minh Công nghiệp Điện tử (Electronic Industries Alliance - EIA) trong Tiêu chuẩn 100B.01[6][36] định nghĩa K, M và G theo nghĩa nhị phân là tiền tố cho những đơn vị của bộ nhớ bán dẫn, ghi chú rằng những định nghĩa này "chỉ được kèm theo để phản ánh thực tế sử dụng thông thường" và còn chú ý rằng 'IEEE/ASTM SI 10-1997 có nói "Việc sử dụng như thế này thường dẫn tới sự nhầm lẫn và không được tán thành."'. Tất cả những tiêu chuẩn xuất bản bởi JEDEC vẫn đang sử dụng cách dùng thông thường, gồm cả những đề xuất đóng gói chip nhớ cho người dùng cuối.

Nhiều lĩnh vực trong lập trình máy tính đề cập tới bộ nhớ với ý nghĩa lũy thừa hai một cách tự nhiên. Ví dụ như, một con trỏ có thể tham chiếu đến nhiều nhất là 65.536 đơn vị (byte, word, hoặc đối tượng khác), hay một hệ điều hành có thể chiếu tương ứng bộ nhớ với nghĩa là từng trang độ lớn 4.096-byte, trong trường hợp đó chính xác 8.192 trang có thể định vị được 33.554.432 byte bộ nhớ phần cứng. Sẽ thuận tiện hơn khi diễn đạt các con số này một cách không chính thức lần lượt là 64K đơn vị, hay 8K trang có độ lớn 4Kbyte (KiB), mỗi trang tương ứng với 32 MByte (MiB) bộ nhớ. Một lập trình viên có thể dễ dàng tính nhẩm rằng "8K × 4K là 32 meg" và sẽ có giá trị chính xác, với ngữ cảnh lũy thừa hai này. Sự thuận tiện này có lẽ là một trong những nguồn gốc của việc mượn "kilo" và "mega" từ hệ SI để viết tắt cho 1.024 và 1.048.576, như một tiếng lóng đặc biệt trong một nhánh của ngành công nghiệp.

Hầu như tất cả chương trình dành cho người dùng máy tính (và nhiều chương trình lập trình cấp cao) không có xu hướng và cũng không cần phải nói rõ về lũy thừa của hai. Sự lẫn lộn của người dùng giữa lũy thừa của 1000 và lũy thừa của 1024 có thể suy ra phần lớn từ vài ứng dụng và hệ điều hành ban đầu được viết bởi lập trình viên và cũng dành cho lập trình viên, những chương trình đó do đó đã báo cáo số lượng như kích thước tập tin theo cách quen thuộc (đối với lập trình viên) là lũy thừa của 1024 trong khi sử dụng tên viết tắt SI (lũy thừa của 1000). Nếu không có những báo cáo này, phần lớn người dùng sẽ không bị đặt vào nghĩa lũy thừa của 1024, vì bộ nhớ thực mà người dùng sử dụng sau khi vài bù trừ chi phí hiếm khi là lũy thừa của 2. Hành vi được kế thừa của hệ điều hành khi báo cáo kích thước theo lũy thừa của 1024 vẫn tiếp tục đến ngày nay (năm 2007) ngay cả ở nhiều hệ điều hành có giao diện đồ họa nhắm chủ yếu đến người dùng không phải lập trình viên.
Ổ cứng

Những nhà sản xuất ổ cứng dùng đơn vị thập phân để chỉ dung lượng. Việc sử dụng như thế có truyền thống từ lâu, trước cả khi hệ thống SI của các tiền tố thập phân được công nhận vào năm 1960:

* Ổ cứng đầu tiên là IBM 350 (thập niên 1950) có 5.000.000 ký tự 6 bit được tổ chức trong 100 vùng (sector) ký tự (nghĩa là khối - block). Điều này xảy ra trước khi có hệ thống SI.
* Vào thập niên 1960 một cách mặc định tất cả ổ đĩa sử dụng định dạng chiều dài khối biến đổi của IBM (gọi là Count Key Data hay "CKD[37]"). Bất kỳ kích thước khối nào cũng có thể xác định dựa trên chiều dài rãnh (track) lớn nhất. Các khối ("thanh ghi" trong thuật ngữ của IBM) 88, 96, 880 và 960 thường được dùng vì chúng liên quan tới kích thước khối không đổi của các thẻ có lỗ. Dung lượng đĩa thường được chỉ theo các khối thanh ghi rãnh đầy đủ, ví dụ như một gói 3336 đĩa 100 Megabyte chỉ đạt được dung lượng với một kích thước khối rãnh 13.030 byte.
* CKD vẫn còn dùng đến thập niên 1990 và có lẽ còn đến ngày nay. Vào thập niên 1970 và 1980 phần lớn ổ đĩa được xác định bằng số rãnh chưa định dạng (dung lượng chưa định dạng) với kích thước khối cụ thể và dung lượng đã được định dạng là một hàm của thiết kế bộ điều khiển. Ví dụ như, ST412 của IBM PC/XT có dung lượng chưa định dạng là 12,75 MB (không phải MiB) và được định dạng với bộ điều khiển Xebec và 512 khối và được quảng cáo là ổ cứng 10,0 MB (không phải MiB). Những bộ điều khiển khác hỗ trợ những kích thước khối khác dẫn đến dung lượng sau khi định dạng khác nhau.
* Sự xuất hiện của giao tiếp thông minh (SCSI và IDE) vào đầu thập niên 1990 đã thống nhất việc quyết định kích thước một khối và mặc định chọn 512 byte, không có lý do gì khác ngoài việc IBM đã chọn nó khi họ lấy bộ điều khiển Xebec dành cho PC/XT. Dung lượng tiếp tục được xác định bởi các nhà sản xuất ổ cứng với định nghĩa tiền tố SI.
Bất kể thực tế từ trước đến nay của các nhà sản xuất ổ cứng là luôn xác định dung lượng với quy ước tiền tố SI, giao diện đồ họa của một vài hệ thống hay hệ điều hành vẫn báo cáo dung lượng ổ cứng là một số nhị phân dẫn đến sự lẫn lộn. Vào tháng 1 năm 2007, phần lớn, nhưng không phải tất cả, các nhà sản xuất ổ cứng tiếp tục dùng tiền tố thập phân để xác định dung lượng.
avatar
kimgiap(i92c)

Tổng số bài gửi : 144
Join date : 28/07/2010
Đến từ : Bình Định

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Tiền tố đơn vị đo lường quốc tế ( SI prefixes hoặc Metric prefixes )

Bài gửi  TranQuyCanh (102C) on 10/5/2011, 23:21

Cảm ơn các bạn đã chia sẽ...
Thật sự rất hữu ích khi kỳ thi đang đến Smile
avatar
TranQuyCanh (102C)

Tổng số bài gửi : 25
Join date : 16/02/2011
Age : 28
Đến từ : Quảng Ngãi

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Tiền tố đơn vị đo lường quốc tế ( SI prefixes hoặc Metric prefixes )

Bài gửi  Sponsored content


Sponsored content


Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết